Mỹ – Các biện pháp tự vệ chính thức đối với mặt hàng thép thành phẩm nhập khẩu.
|
Tiêu đề |
Mỹ - biện pháp tự vệ đối với thép |
| Nguyên đơn: |
Thụy Sỹ
|
| Bị đơn: |
Mỹ
|
| Bên thứ ba: |
Braxin,
Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Cuba, Cộng đồng Châu Âu (EC), Nhật Bản,
Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Nauy, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela |
| Yêu cầu tham vấn ngày: |
03 tháng 04 năm 2002 |
| Báo cáo của Ban Hội thẩm ban hành: |
11 tháng 07 năm 2003 |
| Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm ban hành: |
10 tháng 11 năm 2003 |
Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện:
Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện tới ngày 21 tháng 01 năm 2009:
Thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm
Khiếu kiện của Cộng đồng Châu Âu (EC) (WT/DS248);
Khiếu kiện của Nhật Bản (WT/DS249);
Khiếu kiện của Hàn Quốc (WT/DS251);
Khiếu kiện của Trung Quốc (WT/DS252);
Khiếu kiện của Thụy Sỹ (WT/DS253);
Khiếu kiện của Nauy (WT/DS254);
Khiếu kiện của New Zealand (WT/DS258);
Khiếu kiện của Braxin (WT/DS259).
Ngày 07/03/2002, Cộng đồng Châu Âu (EC) yêu cầu tham vấn với Mỹ về việc
áp đặt biện pháp tự vệ chính thức dưới hình thức tăng thuế nhập khẩu
đối với thép cán (flat steel), thép cuộn nóng (hot-rolled bar), thép
lạnh thành phẩm (cold-finished bar), thép gia cố (rebar), thép ống hợp
kim (certain welded tubular products), thép hợp kim các bon (carbon and
alloy fittings), thép thanh không gỉ (stainless steel bar), thép dây
không gỉ (stainless steel wire) và dưới hình thức hạn ngạch thuế quan
đối với thép tấm có hiệu lực từ ngày 20/03/2002. EC cho rằng các biện
pháp kể trên của Mỹ vi phạm các nghĩa vụ của quốc gia này theo Hiệp
định về biện pháp tự vệ và GATT 1994, cụ thể vi phạm các điều khoản
2.1, 2.2 ,3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 7.1 và 9.1 của Hiệp định về
biện pháp tự vệ và các điều khoản I:1, XIII và XIX:1 của GATT 1994. EC
cũng giữ quyền liên quan tới việc theo đuổi vụ kiện theo Hiệp định về
biện pháp tự vệ và Quy tắc Giải quyết Tranh chấp trong WTO (DSU).
Ngày 14/03/2002, Nhật và Hàn Quốc yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày
15/03/2002, Thụy Sỹ và Canada cũng yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày
20/03/2002, Venezuela yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 21/03/2002, Nauy
và Trung Quốc đồng thời yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 22/03/2002,
Mexico yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 25/03/2002, New Zealand cũng yêu
cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB rằng nước này chấp thuận
tham vấn của các quốc gia Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Mexico, New Zealand, Nauy, Thụy Sỹ và Venezuela.
Ngày 20/03/2002, Nhật Bản (WT/DS249) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện
pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại
Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 7.1, 7.4.
8.1, 12.1, 12.2, 12.3 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều
khoản I:1, II, X:3, XIII và XIX:2 của GATT 1994. Ngày 27/03, Nauy yêu
cầu tham gia tham vấn. Ngày 05/04, Mexico cũng yêu cầu tham gia tham
vấn. Ngày 09/04/2002, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông
báo với DSB rằng nước này chấp thuận đề nghị tham vấn của Mexico, New
Zealand và Nauy.
Ngày 20/03/2002, Hàn Quốc (WT/DS251) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện
pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại
các luật liên quan của Mỹ, bao gồm mục 201 và 202 của Bộ luật thương
mại Mỹ 1974 và mục 311 của Luật thực thi NAFTA. Hàn Quốc khiếu nại Mỹ
vi phạm các Điều 2.1, 2.2, 3, 4, 5, 7.1, 7.4, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp
định về biện pháp tự vệ và các Điều X:3 và XIX:1 của GATT 1994 và điều
khoản XVI:4 của Hiệp định Marrakesh . Ngày 27/03, Nhật Bản và Nauy yêu
cầu tham gia tham vấn. Ngày 05/04, Mexico và New Zealand yêu cầu tham
gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB rằng nước này chấp thuận đề nghị
tham vấn của Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Nauy.
Ngày 26/03/2002, Trung Quốc (WT/DS252) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện
pháp tự vệ cuối cùng Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ
vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 7.1,
8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1,
II, X:3, XIX:1 và XIX:2 của GATT 1994. Ngày 04/04, Nhật Bản yêu cầu
tham gia tham vấn. Ngày 05/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn.
Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản và New
Zealand.
Ngày 03/04/2002, Thụy Sỹ (WT/DS253) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện
pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại
Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3, 4.1, 4.2, 5.1, 7.1, 8.1 và 12
của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1 và XIX:1của
GATT 1994. Ngày 11/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày
15/04, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp
thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản và New Zealand.
Ngày 04/04/2002, Nauy (WT/DS254) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp
tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi
phạm các Điều khoản 3, 4.1, 4.2, 5.1, 7, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định
về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, II, X:3 và XIX của GATT 1994.
Ngày 11/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 15/04, Nhật Bản
yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham
vấn của Nhật Bản và New Zealand.
Ngày 14/05/2002, New Zealand (WT/DS258) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện
pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại
Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 7, 8.1 và
12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, X và XIX:1
của GATT 1994. Ngày 24/05, EC yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 27/05,
Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 30/05, Hàn Quốc yêu cầu tham
gia tham vấn. Ngày 31/05, Nauy, Trung Quốc và Mexico yêu cầu tham gia
tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Trung
Quốc, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico và Nauy.
Ngày 21/05/2002, Braxin (WT/DS259) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp
tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm. Ngày 24/05, EC yêu
cầu tham gia tham vấn. Ngày 27/05, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn.
Ngày 30/05, Hàn Quốc yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 31/05, Nauy, Trung
Quốc và Mexico yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp
thuận đề nghị tham vấn của Trung Quốc, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico
và Nauy.
Đối với từng yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm của mỗi tám nguyên đơn tại các cuộc họp của DSB:
• Ngày 03/06/2002 – EC tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều
khoản 2.1, 3.1, 4.2(a), 4.2(b), 4.2(c) và 5.1 của Hiệp định về biện
pháp tự vệ và điều khoản XIX:1 của GATT 1994;
• Ngày 14/06/2002 – Nhật Bản tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm
Điều khoản 2, 3, 4 và 5 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và điều khoản
I:1, X:3 và XIX:1 của GATT 1994. Hàn Quốc tuyên bố biện pháp tự vệ của
Mỹ vi phạm Điều khoản 2, 3, 4, 5, 7.1, 8.1, 9.1 và 12của Hiệp định về
biện pháp tự vệ và điều khoản X:3, XIII và XIX của GATT 1994.
• Ngày 24/06/2002 – Trung Quốc tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm
Điều khoản 2.1, 3.1, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định
về biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế và Điều khoản I:1, II và
XIX của GATT 1994. Thụy Sỹ tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều
khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4, 5.1 và 8.1 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và
Điều khoản XIX:1 của GATT 1994. Nauy tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi
phạm Điều khoản 2, 3, 4, 5.1, 7.1 và 9.1 của Hiệp định về biện pháp tự
vệ và Điều khoản I:1, X:3(a) và XIX của GATT 1994.
• Ngày 08/07/2002 – New Zealand tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm
Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4.2, 5.1, 7 và 8.1 của Hiệp định về biện pháp
tự vệ và Điều khoản X:3(a) và XIX:1 của GATT 1994.
• Ngày 29/07/2002 – Braxin tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm điều
khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4 và 5 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và Điều
khoản I:1, X:3 và XIX:1 của GATT 1994.
DSB đã thành lập Ban Hội thẩm theo thỏa thuận giữa các bên và theo Điều
khoản 9.1 của Quy tắc Giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU).
Các thành viên tham gia với tư cách là bên thứ 3 trong Ban Hội thẩm
thành lập theo yêu cầu của các bên cũng được coi là bên thứ 3 của Ban
Hội thẩm riêng này. Canada, Đài Loan, Cuba, Malaixia, Mexico, Thái Lan,
Thổ Nhỹ Kỳ và Venezuela tham gia vào quá trình hoạt động của Ban với tư
cách là bên thứ 3.
Ngày 15/07/2002, DSB nhận thông báo thỏa thuận thủ tục giữa Mỹ và EC,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Nauy và New Zealand. Ngày
18/07/2002, DSB được thông báo về thỏa thuận thủ tục giữa Mỹ và Braxin.
Ngày 15/07/2002, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Nauy và
New Zealand yêu cầu chủ tịch DSB xác định cơ cấu của Ban Hội thẩm.
Ngày 25/07/2002, cơ cấu của ban được xác định.
Ngày 23/10/2002, Malayxia quyết định rút khỏi danh sách bên thứ 3 tham gia vụ kiện.
Ngày 20/02/2003, chủ tịch ban thông báo với DSB rằng ban không thể hoàn
tất công việc trong 6 tháng do khối lượng, tính phức tạp và nhạy cảm
của vụ kiện cả về mặt pháp lý và thực tế. Ban dự kiến sẽ hoàn tất công
việc vào cuối tháng 04/2003.
Ngày 11/07/2003, Ban Hội thẩm công bố báo cáo tới các thành viên. Báo
cáo kết luận rằng tất cả các biện pháp tự vệ của Mỹ đưa ra trong vụ
kiện đều không phù hợp với một trong những điều kiện được áp dụng biện
pháp tự vệ sau đây của WTO: không chứng minh được (i) sự phát triển
không lường trước được, (ii) sự gia tăng hàng nhập khẩu, (iii) quan hệ
nhân quả, (iv) quan hệ tương đương. Do vậy Ban Hội thẩm yêu cầu Mỹ phải
sửa đổi lại các biện pháp này cho phù hợp với nghĩa vụ của nước này
theo Hiệp định về biện pháp tự vệ và GATT 1994.
Ngày 11/08/2003, Mỹ thông báo ý định kháng cáo về các vấn đề pháp lý và giải thích pháp luật trong báo cáo của Ban Hội thẩm.
Ngày 08/10/2003, chủ tịch Cơ quan Phúc thẩm thông báo với DSB rằng Cơ
quan Phúc thẩm không thể đưa ra báo cáo trong vòng 60 ngày như yêu cầu
và Cơ quan ước tính muộn nhất là 10/11/2003 sẽ công bố báo cáo tới các
thành viên WTO.
Ngày 10/11/2003, Cơ quan Phúc thẩm ban hành báo cáo tới các thành viên.
Cơ quan Phúc thẩm tán thành kết luận cuối cùng của Ban Hội thẩm rằng
biện pháp tự vệ nêu ra trong vụ kiện của Mỹ vi phạm các nghĩa vụ của
nước này theo Điều khoản XIX:1(a) của GATT 1994 và Hiệp định về biện
pháp tự vệ. Cơ quan Phúc thẩm phản đối kết luận của ban rằng Mỹ đã
không lý giải đầy đủ và hợp lý “sư gia tăng hàng nhập khẩu” và mối quan
hệ nhân quả giữa sự gia tăng hàng nhập khẩu với thiệt hại nghiêm trọng
đối với 2 trong số 10 biện pháp tự vệ. Tuy nhiên cuối cùng các biện
pháp này cũng được chứng minh là vi phạm Hiệp định WTO.
Tại cuộc họp ngày 10/12/2003, DSB thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc
thẩm và báo cáo của Ban Hội thẩm do Cơ quan Phúc thẩm sửa đổi.
Tình hình thực thi các báo cáo đã thông qua
Tại cuộc họp ngày 10/12/2003, Mỹ thông báo với các thành viên rằng ngày
04/12/2003, tổng thống Mỹ đã ban hành một tuyên cáo rằng sẽ xóa bỏ tất
cả các biện pháp tự vệ nêu trong vụ kiện theo mục 204 của Bộ luật
thương mại Mỹ 1974.
Mặc dù tất cả các khiếu nại của 8 nguyên đơn được coi là một khiếu nại
trong quá trình tham vấn, Mỹ vẫn yêu cầu Ban Hội thẩm ban hành 8 báo
cáo riêng biệt, thể hiện quyền giải quyết vấn đề với từng nguyên đơn
theo WTO. Các nguyên đơn quyết liệt phản đối yêu cầu này của Mỹ, cho
rằng điều này sẽ làm chậm lại tiến độ đưa ra báo cáo của Ban Hội thẩm.
Ban Hội thẩm quyết định ban hành báo cáo dưới dạng “một tài liệu bao
gồm 8 báo cáo”. Do vậy, tài liệu này được coi là gồm 8 báo cáo liên
quan với nhau trong vụ kiện này. Tài liệu gồm một trang giới thiệu
chung, một phần miêu tả chung và một phần nêu lên các kết luận. Tuy
nhiên, tài liệu này bao gồm các kết luận và các khuyến nghị được cụ thể
hóa cho từng đối tượng nguyên đơn với các con số riêng. Theo quan điểm
của Ban Hội thẩm, phương pháp này tôn trọng quyền của tất cả các bên
đồng thời đảm bảo giải quyết vụ kiện nhanh chóng và hiệu quả.
Chúng tôi đã đi, đã trở về với một chút thương tích trên người.... Nhưng dường như đường đi quá dài và gian nan để đi và hiểu hết tâm hồn của những con người.
Người lính thời chiến - thời bình: Những sinh viên làm lính thật vui mà thật hào hùng. Lòng yêu nước trong từng nụ cười tươi tắn.