. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức phạm tội đơn lẻ thì tất cả mọi vấn đề liên quan đến tội phạm chỉ cần xác định thông qua hành vi của một người, ngược lại trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì những vấn đề liên quan lại phải được xem xét như là kết quả tổng hợp từ hành vi của nhiều người. Chính sự khác biệt về số lượng người thực hiện tội phạm như vậy đã tạo ra cho đồng phạm tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với hình thức phạm tội đơn lẻ. Do đó, việc xác định trường hợp phạm tội cụ thể là phạm tội đơn lẻ hay đồng phạm gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm hình sự của những người tham gia thực hiện hành vi. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng cùng với sự khác biệt về số lượng người tham gia thì việc xác định các dấu hiệu pháp lí liên quan đến tội phạm cũng phức tạp hơn nhiều.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của việc xác định dấu hiệu pháp lí của đồng phạm, vấn đề này từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu trong sách báo pháp lí ở nước ta. Mặc dù vậy, có thể nhận xét rằng nếu như đối với vấn đề mặt khách quan của đồng phạm chúng ta đã giải đáp được những vấn đề vướng mắc thì đối với mặt chủ quan của đồng phạm chúng ta chưa dành cho nó sự quan tâm thoả đáng để giải quyết triệt để mọi vấn đề liên quan. Thiết nghĩ công việc này không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi nêu ra một số ý kiến với mong muốn được góp phần chỉ rõ khuôn mẫu chung để xác định mặt chủ quan của đồng phạm. Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS) định nghĩa đồng phạm như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể xác định một cách khái quát những dấu hiệu pháp lí của đồng phạm như sau:
- Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi hai dấu hiệu:
1. Có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm;
2. Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý).
- Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi ba dấu hiệu:
1. Lỗi cố ý;
2. Động cơ phạm tội (nếu cấu thành tội phạm tương ứng quy định dấu hiệu động cơ);
3. Mục đích phạm tội (nếu cấu thành tội phạm tương ứng quy định dấu hiệu mục đích).
Từ sự khái quát đó ta có thể xem xét các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm như sau:
Trước hết, lỗi của những người tham gia đồng phạm bao giờ cũng là lỗi cố ý, nói cụ thể hơn thì đồng phạm có thể được thực hiện với cả lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm từ trước đến nay chúng ta đã đi đến thống nhất quan điểm xác định là đồng phạm trong trường hợp mà những người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Như vậy, căn cứ vào dấu hiệu lỗi trong đồng phạm, có thể chia đồng phạm thành hai trường hợp sau:
- Trường hợp tất cả những người đồng phạm đều có lỗi cố ý trực tiếp. Trong trường hợp này, những người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra. Ví dụ: Trường hợp A và B rủ nhau đi cướp tài sản của C.
- Trường hợp tất cả những người đồng phạm đều có lỗi cố ý gián tiếp. Đây là trường hợp những người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội về lí trí đều nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, về ý chí họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: A được người nhà đưa vào bệnh viện do bị bệnh nặng cần được cấp cứu kịp thời. B và C (là hai bác sĩ trực) bàn nhau sách nhiễu đòi hối lộ của gia đình A. Họ biết với tình trạng bệnh tật của A, nếu không được cấp cứu kịp thời, hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng với mục đích kéo dài thời gian để buộc gia đình A phải đưa hối lộ nên họ vẫn trì ho n những thao tác nghề nghiệp cần thiết. Hành vi đó dẫn đến hậu quả bệnh nhân A bị chết. Trường hợp này B và C là đồng phạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp.
Từ sự phân tích như trên chúng ta có thể đi đến kết luận: Trường hợp lỗi của những người tham gia đều là cố ý trực tiếp hay đều là cố ý gián tiếp đã được chúng ta thừa nhận về mặt lí luận. Tuy nhiên, vấn đề mà sách báo pháp lí hình sự từ trước đến nay chưa đề cập là trong vụ đồng phạm có thể đồng thời có cả lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp không? Chúng tôi cho rằng, việc đặt ra vấn đề này là có cơ sở khoa học. Bởi vì, đồng phạm do nhiều người thực hiện, do đó hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp thái độ tâm lí của họ đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra không giống nhau. Trong đó có trường hợp họ cùng thống nhất với nhau về việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (cùng nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm trong hành vi của những người kia, cùng thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tổng hợp hành vi mà họ cùng thực hiện), tuy nhiên họ lại khác nhau về thái độ đối với hậu quả: Có người mong muốn hậu quả phát sinh nhưng có người lại có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Nếu trường hợp đó xảy ra trên thực tế, chúng ta có thể coi đó là đồng phạm hay không?
Chúng tôi cho rằng Điều 20 BLHS năm 1999 chỉ đưa ra giới hạn cùng cố ý, tức là lỗi của họ đều phải là lỗi cố ý chứ không tạo ra trong luật điều kiện họ phải cùng là cố ý trực tiếp hoặc cùng là cố ý gián tiếp. Khẳng định của chúng ta từ trước đến nay chỉ là sự phân tích điều luật mang tính khái quát đặt trong xu hướng phổ biến của thực tiễn. Do đó, nếu xem xét trường hợp nêu trên như trường hợp cá biệt có thể xảy ra chúng tôi cho rằng trường hợp đó vẫn thoả mãn những điều kiện của đồng phạm. Ví dụ: A và B cùng thầu ao của hợp tác xã để thả cá. C đã nhiều lần đến kéo trộm cá tại ao chung của A và B, hành vi đó của C bị những người cùng xã nhìn thấy và đã kể với A, B. Cộng với mâu thuẫn với C đã sẵn có từ trước, A nung nấu ý định giết C và chờ cơ hội để thực hiện ý định đó. Một hôm, đang ngồi trong lều coi cá, A nghe có tiếng động từ ao và phát hiện ra C lại đến kéo cá trộm. A rủ B ra xử lí C. B đồng ý với ý định sẽ đánh cho C một trận cho bõ tức, hậu quả muốn ra sao thì ra. A mang theo một con dao nhọn, B mang theo một cây côn. Khi bắt được C, B dùng côn quật bừa vào C còn A dùng dao đâm C nhiều nhát. Khi thấy C gục xuống không còn cử động gì, B bỏ vào lều còn A sau khi kiểm tra thấy C đã chết mới bỏ đi.
Trường hợp này rõ ràng cần phải được xử lí với tư cách là vụ đồng phạm.
Từ việc xem xét trường hợp cá biệt đó chúng tôi cho rằng khi xác định dấu hiệu ý chí trong đồng phạm ngoài trường hợp những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh cần phải đề cập thêm trường hợp những người đó cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý, từ nội dung họ cùng thực hiện một tội phạm trong định nghĩa đồng phạm nêu trên, chúng ta có thể thấy trong mặt chủ quan của đồng phạm cũng cần phải thoả mãn những dấu hiệu khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm mà điều luật quy định là dấu hiệu bắt buộc. Bởi vì, chỉ khi thoả mãn những dấu hiệu đó thì mỗi người thực hiện hành vi nguy hiểm mới có thể được coi là phạm tội và từ đó mới được xác định là đồng phạm hay phạm tội đơn lẻ. Như vậy, cần phải khẳng định rằng trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì ngoài dấu hiệu lỗi là cùng cố ý, trong mặt chủ quan của tội phạm cũng phải thoả mãn dấu hiệu khác để hành vi của những người thực hiện được gọi là tội phạm.
Liên quan đến nội dung này, hiện nay hầu như đã có sự thống nhất ý kiến trong sách báo pháp lí hình sự về việc những người đồng phạm phải có cùng mục đích nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm hoặc nếu không có cùng mục đích thì cũng phải có sự tiếp nhận mục đích của nhau. Ví dụ: Một nhóm người có cùng mục đích là chống chính quyền nhân dân đã cùng nhau thu thập tin tức thuộc bí mật nhà nước để cung cấp cho nước ngoài (có cùng mục đích được quy định trong cấu thành tội phạm) hoặc trường hợp một người biết rõ người khác đang tập hợp lực lượng để hoạt động nhằm chống chính quyền nhân dân, tuy người đó không có mục đích chống chính quyền nhân dân nhưng vì được trả tiền nên vẫn giúp người kia thực hiện hoạt động tập hợp lực lượng (tiếp nhận mục đích được quy định trong cấu thành tội phạm).
Tuy nhiên, về vấn đề có đòi hỏi những người đồng phạm phải cùng thoả mãn dấu hiệu động cơ không nếu động cơ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm thì lại chưa có sự thống nhất giữa các ý kiến. Có thể khái quát có hai loại quan điểm khác nhau xuất hiện khi giải quyết vấn đề này:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng dấu hiệu động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ cần phải có ở người thực hành bởi vì cho dù động cơ không giống nhau hai người trở lên vẫn có thể là đồng phạm miễn là họ cùng có lỗi cố ý và cùng mục đích hoặc tiếp nhận mục đích của nhau trong trường hợp mục đích là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
+ Quan điểm thứ hai lại khẳng định nếu động cơ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm mà nhiều người tham gia thực hiện thì họ chỉ là đồng phạm trong trường hợp ngoài dấu hiệu lỗi cùng là cố ý và cùng mục đích (nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm) thì tất cả những người đó phải đều có động cơ mà điều luật quy định hoặc ít nhất họ phải tiếp nhận động cơ của nhau. Trong trường hợp đó nếu người nào không thoả mãn dấu hiệu động cơ như vậy thì họ không phải là đồng phạm của những người kia bởi vì khi đó họ chưa phải là người phạm tội mà điều luật đó quy định.
Nghiên cứu hai quan điểm trên, chúng tôi cho rằng quan điểm thứ hai hợp lí hơn. Xuất phát từ định nghĩa đồng phạm là hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, chúng tôi cho rằng tất cả những người tham gia thực hiện hành vi nào đó đều phải là người phạm tội trước khi được gọi là đồng phạm. Tức là về mặt chủ quan họ phải thoả mãn tất cả những dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Mặt khác, có thể khẳng định dấu hiệu động cơ và dấu hiệu mục đích đều là hai dấu hiệu trong mặt chủ quan của tội phạm, chúng đều không phải là những dấu hiệu đương nhiên bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm mà chỉ mang tính bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm. Vì vậy, trong trường hợp điều luật quy định chúng là dấu hiệu bắt buộc thì chúng cần phải được xem xét với giá trị ngang bằng nhau.
Từ sự phân tích trên chúng tôi đi đến kết luận: Trong trường hợp người nào đó cùng với người khác thực hiện hành vi nguy hiểm mà điều luật tương ứng quy định dấu hiệu động cơ là dấu hiệu bắt buộc (ví dụ: Động cơ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác trong tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ) thì chỉ khi người đó có động cơ như vậy hoặc ít nhất là phải tiếp nhận động cơ này từ người phạm tội kia họ mới có thể là đồng phạm. Trong trường hợp ngược lại thì chỉ riêng người thoả mãn dấu hiệu động cơ mới có thể là người phạm tội. Ví dụ: Nếu một người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nhận được sự giúp đỡ của một nhân viên để thực hiện tội phạm nhưng bản thân nhân viên đó không có động cơ mà điều luật quy định cũng không biết động cơ của người có chức vụ, quyền hạn là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác thì nhân viên đó không thể được coi là người giúp sức trong vụ việc nói trên. Ngược lại, nếu nhân viên biết rõ động cơ của thủ trưởng nhưng vẫn giúp đỡ để thủ trưởng thực hiện tội phạm thì người đó được coi là người giúp sức trong đồng phạm.
Tương tự như vậy, nếu động cơ được quy định trong cấu thành tội phạm tăng nặng (ví dụ: Động cơ đê hèn trong tội giết người) thì cũng đòi hỏi tất cả những người đồng phạm phải có cùng động cơ đó hoặc tiếp nhận động cơ đó của nhau. Trường hợp trong những người cùng tham gia thực hiện tội phạm có người thoả mãn dấu hiệu động cơ ở khung tăng nặng, có người không thoả mãn dấu hiệu động cơ đó thì họ chỉ là đồng phạm tội danh tương ứng nhưng thuộc các khung khác nhau. Trong đó chỉ những người có dấu hiệu động cơ được quy định ở khung tăng nặng mới bị xét xử theo khung tăng nặng, những người còn lại bị xét xử theo khung cơ bản (nếu không thoả mãn tình tiết giảm nhẹ, ăng nặng định khung khác). Ví dụ: A và B hợp tác với nhau giết C. Động cơ của A là chiếm đoạt tài sản (A là đối tượng duy nhất được hưởng tài sản thừa kế nếu C chết), động cơ của B là ghen tuông. Trường hợp này A và B là đồng phạm tội giết người nhưng A có dấu hiệu động cơ đê hèn nên bị xử theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999, B chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999.
Vấn đề khác cũng cần được đặt ra là đối với những điều luật quy định dấu hiệu động cơ mang tính lựa chọn, nếu những người tham gia thực hiện tội phạm có động cơ khác nhau (nhưng đều là động cơ được quy định trong điều luật đó) thì họ có coi là đồng phạm với nhau hay không? Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng chỉ cần dấu hiệu động cơ của họ thoả mãn quy định của điều luật thì họ đã phạm tội dưới hình thức đồng phạm mà không cần động cơ của họ phải giống nhau. Ví dụ: Trường hợp hai người cùng nhau thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà một người có động cơ vụ lợi, một người có động cơ cá nhân khác thì họ vẫn là đồng phạm của nhau.
Tóm lại, xuất phát từ quy định của Bộ luật hình sự về đồng phạm và thực tiễn phạm tội dưới hình thức này, chúng tôi cho rằng vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm là vấn đề rất phức tạp đồng thời việc làm sáng tỏ nó lại là đòi hỏi của cả lí luận và thực tiễn. Vì vậy, chúng cần phải nhận được sự quan tâm thoả đáng để có được khuôn mẫu hoàn chỉnh cho việc phân biệt giữa đồng phạm với phạm tội đơn lẻ, giữa phạm tội với không phải là hành vi phạm tội./.
Cao Thị Oanh
Theo : Tạp chí Luật học số 02 (2002)