Satoru Iwata - Nhà sáng tạo tài ba của Nintendo

Năm 2006, lợi nhuận thực của Nintendo tăng 77,2%. Hơn 26,8 triệu sản phẩm của Nintendo được bán trong năm 2007. Giá trị cổ phiếu của Nintendo tăng gấp 5 lần trong vòng hơn 5 năm qua. Nintendo có giá trị đứng thứ 11 trên thị trường Nhật Bản năm 2007.


Cậu bé đam mê game 

Satoru Iwata sinh năm 1959, tại quận Hokkaido, Nhật Bản. Không giống như những ông chủ khác của Nintendo, những người không khởi nghiệp từ việc sản xuất trò chơi điện tử, chẳng hạn như Shigeru Miyamoto, ban đầu là một nhà thiết kế đồ họa, Iwata bộc lộ rất sớm niềm đam mê sáng tạo ra các trò chơi trên video. Nói như Hiroshi Yamauchi, Chủ tịch tiền nhiệm của Nintendo: “Iwata là một thiên tài đặc biệt, sở hữu những bản năng thiết kế game bẩn sinh. Anh ta có sự hiểu biết sâu sắc và kiến thức chắc chắn về sản phẩm phần cứng và phầm mềm của Nintendo. Điều đó rất cần có để tồn tại được trong môi trường kinh doanh như hiện nay”. 

 

Iwata đã thật sự đắm chìm trong việc viết các chương trình tin học cơ sở. Và trong suốt những năm trung học, Iwata đã tự tạo những trò chơi điện tử tại nhà như một sở thích đặc biệt. Ông tạo ra một vài trò chơi số đơn giản, và chúng được dùng như một chiếc máy tính điện tử. Sau đó ông mang những sáng chế của mình chia sẻ với các bạn học cùng lớp. 

Sau khi học xong trung học, Iwata ghi danh theo học tại một Trung tâm Kỹ thuật danh tiếng tại Tokyo. Tại đây, ông theo học chuyên ngành Khoa học máy tính. Chính trong môi trường này, chuyên môn kỹ thuật và tình yêu dành cho game đã dẫn dắt ông thẳng tới công nghệ video game. 

Dù Iwata luôn ấp ủ một niềm đam mê cháy bỏng đối với trò chơi video, nhưng gia đình ông vẫn không mấy tán thành việc ông tiếp tục theo đuổi sự nghiệp trong ngành công nghiệp sáng chế game ấy. Iwata đã từng kể lại rằng: “Có lần bố tôi không nói với tôi một lời nào trong suốt gần 6 tháng sau khi tôi gia nhập HAL. Có lẽ mọi người đã nghĩ rằng tôi đang gia nhập vào một tổ chức tôn giáo nào đó”. Ông cố gắng thuyết phục gia đình và quyết tâm theo đuổi niềm đam mê của mình. Iwata bắt đầu với công việc của một người viết chương trình trò chơi bán thời gian cho Công ty Liên hợp Thực nghiệm HAL. Cùng lúc đó, ông vẫn luôn theo đuổi việc học lên đại học. Năm 1982, Iwata chính thức làm việc toàn thời gian tại HAL. 

Satoru Iwata đã không mất nhiều thời gian để chứng minh rằng ông thật sự thuộc về ngành công nghệ trò chơi video. Trong những năm 80, Iwata tham gia vào nhiều dự án lớn của HAL. Với nhiều thành công liên tiếp, HAL đã mở rộng thêm cơ sở. Sau đó HAL bắt đầu phân chi nhánh hoạt động và Iwata được làm tại bộ phận công tác tự do. Ông chịu trách nhiệm viết chương trình cho một số game đang phát triển của đối tác NCL, trong số đó có Balloon Fight và  NES Open Golf. Chỉ một năm sau khi tham gia HAL, Satoru Iwata bắt đầu kết hợp sản xuất phần mềm với việc phát triển nhiều danh hiệu do Nintendo xuất bản. Thời gian đó, Iwata giữ vai trò cực kỳ quan trọng tại một trong những chi nhánh danh tiếng nhất của Nintendo. 

Suốt thập niên 90, Satoru Iwata cũng chứng tỏ khả năng am hiểu sâu sắc về công nghệ video game. Ngay sau khi HAL gần như phá sản vào năm 1992, Iwata được chỉ định làm giám đốc của công ty. Nhiệm kỳ của Iwata kéo dài khoảng 7 năm, từ 1993 đến 2000. Trong suốt thời gian này, ông được xem như vị cứu tinh đã vực dậy HAL từ cơn khủng hoảng.   

Sự kiên quyết thay đổi để cứu HAL của Satoru Iwata không chỉ giúp bản thân HAL tồn tại mà còn tóm gọn lợi nhuận từ Hiroshi Yamauchi. Khi mọi việc đã bình ổn trở lại, nhiệm kỳ của Iwata tại HAL cũng kết thúc. Thành công của ông trở thành kinh nghiệm giúp ông trụ vững ở một vị thế rất cao trong NCL sau đó. 


Khẳng định tài năng tại NCL

Vào năm 2000, Satoru Iwata chuyển từ HAL đến NCL. Công việc mới, ngay trực tiếp bên trong NCL, đã mang đến cho Iwata một cơ hội tốt hơn để thể hiện năng lực của mình. 18 năm kinh nghiệm của Iwata ở HAL đã chứng tỏ được giá trị của ông đối với Nintendo, đặc biệt là trong kế hoạch ra mắt hệ thống game mới nhất của công ty. 

 

Trước khi trở thành Chủ tịch của Nintendo, Iwata làm trưởng bộ phận kế hoạch của công ty này, chịu trách nhiệm về kế hoạch hợp tác cho Nintendo trên toàn cầu. Ông còn đảm nhận vai trò chủ chốt trong việc hoạch định chiến lược của công ty trong cả trước và trong suốt thời gian ra mắt máy chơi game GameCube vào năm 2001. Đặc biệt là tầm nhìn của Iwata về phát triển thuần nhất, các sản phẩm “vui để chơi” đã giúp cho Nintendo đạt mức lợi nhuận gây sốt đến 41% với 953 triệu USD, và mức doanh thu lên đến 4.4 tỉ USD vào cuối năm tài chính 2001. Các con số này có được là nhờ mức tăng bán hàng 20% vào năm trước. Trên cơ bản, thành công vang dội của Iwata trong Phòng Kế hoạch Nintendo đã khiến ngài Chủ tịch tiền nhiệm của công ty này, ông Hiroshi Yamauchi, không ngần ngại chọn Iwata làm người kế vị. 

Một buổi chiều tháng 5 năm 2002, Iwata được triệu tập tới văn phòng của Hiroshi Yamauchi. Hai giờ sau, Yamauchi đã thuyết trình cho Iwata những thách thức mà ông ta đã đối mặt trong gần nữa thế kỷ ông làm chủ tịch Hãng Nintendo. Yamauchi đã giải thích rất chi tiết, làm cách nào ông ta đã đã chiến thắng những thách thức này và thay đổi Nintendo từ một nhà sản xuất thẻ chơi game trở thành một trong những tập đoàn giải trí có thế lực nhất thế giới. Trong các cuộc phỏng vấn sau đó, Iwata nói rằng ông nghĩ mình sẽ bị Yamauchi đuổi việc. Nhưng sự thật thì hoàn toàn ngược lại, Yamauchi đã quyết định chọn Satoru Iwata là người kế nhiệm. 

“Theo những kinh nghiệm tôi có được từ khi đảm nhận cương vị chủ tịch Nintendo, bạn cần phải có một tài năng đặc biệt để lãnh đạo một công ty trong ngành công nghiệp này. Về lâu dài, tôi không biết liệu Iwata sẽ duy trì được vị trí hiện tại của Nintendo hay còn dẫn dắt công ty tiến lên một bậc cao hơn. Nhưng ít nhất tôi tin tưởng anh ta là người tốt nhất cho vị trí này. Lý do mà Iwata đã được chọn là sự hiểu biết và kiến thức của anh ta về sản phẩm phần cứng và phầm mềm của Nintendo”, Hiroshi Yamauchi cho biết. 

Sau cuộc gặp với Yamauchi, Satoru Iwata trở thành vị chủ tịch mới của Nintendo. Hiroshi Yamauchi sau đó trở thành cố vấn ban giám đốc, vị trí mà ông vẫn đảm đương tới ngày nay. Năm 2004, mặc dù Satoru Iwata chỉ mới điều hành công ty hơn 2 năm, nhưng ông đã có những hành động rất rõ ràng. Iwata được xem như người cầm lái đưa Nintendo thoát khỏi sự đeo bám của các công ty khác (như Sega, Namco và Capcom), đồng thời ông cũng là người giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển phần mềm của GameCube. 

Iwata là người xoay chuyển vận mệnh của Nintendo. Vào đầu những năm 1990, Nintendo dẫn đầu thị trường toàn vầu về trò chơi điều khiển bằng tay. Nhưng nó nhanh chóng rơi khỏi vị trí đó bởi sự xuất hiện của PlayStation và tiếp sau đó là Xbox. Trong năm 2002, khi Iwata trở thành vị chủ tịch thứ tư, Gamecube của Nintendo đã rớt xuống hàng thứ ba, sau Sony và Microsoft.  Dưới sự điều hành của Iwata, Nintendo hiện đang dẫn đầu, vượt mặt hai đối thủ PlayStation của Sony và Xbox của Microsoft. Lợi nhuận thực của Nintendo đã tăng 77,2% trong năm 2006. Có hơn 26,8 triệu sản phẩm của Nintendo được bán trong năm 2007. Giá trị cổ phiếu của Nintendo tăng gấp 5 lần trong vòng hơn 5 năm qua. Năm 2007, Nintendo có giá trị  thứ 11 trên thị trường Nhật Bản. Nintendo đã củng cố được một thị trường rộng lớn. 


Dreamiland - Sự khởi đầu hoàn hảo 

Gần 3 thập niên qua, Satoru Iwata đã dành hết thời gian của mình cho công việc với vai trò là người lập trình một số trò chơi (ngay khi độc lập hay thuộc về HAL đến NCL). Sáng tạo đáng chú ý nhất của ông là loạt sản phẩm trò chơi Kirby. Trong đó, Satoru Iwata là người sáng tạo game, và Masahiro Sakurai là người phát triển các nhân vật của Kirby và các khái niệm cơ sở cho game này. Những đóng góp của Iwata vào dự án này là không nhỏ để làm nên danh tiếng cho dòng sản phẩm này. 

 

 Dreamland của Kirby là trò chơi khởi đầu cho tất cả. Phát minh này được thiết kế riêng cho những người mới bắt đầu chơi, vì game thủ ở mọi cấp độ đều có thể chơi đến cảnh cuối cùng. Dreamland được tung ra ở Nhật vào ngày 27/04/1992 và xuất hiện ở Mỹ vào tháng 8 năm đó. Sau hàng loạt thành công vang dội của Kirby, danh tiếng của Satoru Iwata được nhiều người biết đến. 

Hơn một thập kỷ tiếp theo, Iwata giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển các game quan trọng nhất của Nintendo. Đặc biệt trong suốt kỉ nguyên GameCube, vai trò của Iwata trong việc phát triển các game mới nâng cao vượt bậc. Ông có trách nhiệm phát triển các game như Super Mario Sunshine, Star Fox Adventures, Metroid Prime, Eternal Darkness - Sanity's Requiem, Animal Crossing và The Legend of Zelda - The Wind Waker. 

Tuy nhiên thời gian gần đây, việc phát triển những trò chơi ngày càng trở nên đắt tiền và như một hậu quả tất yếu, cả ngành công nghiệp này đang đi xuống. Iwata cảm thấy người chơi không còn ngạc nhiên hay hứng thú với hình họa 3D như trước đây. Với những suy nghĩ đó, Iwata đã đề ra 2 mục đích: rút ngắn thời gian và tiền bạc phát triển trò chơi, tập trung tạo ra những kinh nghiệm chơi game mới cũng như thổi một làn gió mới vào những ý tưởng đang hiện có. 


WII - Bước ngoặt thành công

Bằng sự nhạy bén, Satoru Iwata đã vạch ra hàng loạt chiến lược phát triển mới. Trong khi rất nhiều hãng sản xuất game video hướng tới những hình ảnh đồ hoạ phức tạp, tinh vi dựa trên những hệ máy tốc độ cao, mạnh mẽ thì Nintendo lại mở rộng lượng khách hàng của mình bằng cách cung cấp những game dễ chơi và dễ truy cập. Iwata đã không nhắm vào những game thủ chuyên nghiệp như các đối thủ Microsoft và Sony, sản phẩm của Nintendo hy vọng sẽ mở rộng thị trường bằng cách thu hút thêm nhiều game thủ mới “vào nghề”. Bên cạnh việc thu hút các game thủ "cứng cựa" (chủ yếu là nam giới), Nintendo đã tiến thêm một bước, bắt đầu chinh phục được số đông công chúng - bao gồm cả phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi. 

 

Hàng loạt sản phẩm game được lên kế hoạch thiết kế, sản xuất sau đó. Đáng chú ý nhất trong số đó là sản phẩm máy game thế hệ mới - Wii. Ngay khi chưa được trình làng, sản phẩm này đã ẵm gọn 2 giải thưởng lớn nhất: màn trình diễn ấn tượng nhất và thiết bị hay nhất. Không chỉ dừng lại ở đó, Nintendo còn kiếm được thêm 3 danh hiệu khác cho các sản phẩm phần mềm là: Trò chơi trên máy cầm tay hay nhất (The Legend of Zelda: Phantom Hourglass  cho Nintendo DS), Game thể thao hay nhất (Wii Sports), và Game đua xe hay nhất (Excite Truck trên máy Wii).   

Wii khác với những đồ chơi điều khiển khác ở chỗ nó được trang bị công nghệ theo dấu, cho phép những người chơi tương tác về mặt vật lý với những hình ảnh  trên màn hình. Điểm nổi bật của Wii là sử dụng thiết bị điều khiển, cho phép game thủ điều khiển mọi hành động trên màn hình bằng cách chuyển động thiết bị thay vì gắn chặt đôi bàn tay vào bộ điều khiển game và bấm nút. Vì vậy “Wii sẽ phá bỏ mọi ranh giới giữa game thủ với những người bình thường. Wii sẽ giúp cho người ta chơi game dễ dàng, họ có thể thực sự đánh nhau với những đối thủ hay đánh vợt tennis”, Iwata cho biết. 
Game Wii của Nintendo đã được ra mắt thị trường Mỹ vào tháng 11 năm 2006. Với giá bàn cực “hot” 250 USD (rẻ hơn dòng PS3 cao cấp 600 USD của Sony và Xbox 360 400 USD), Nintendo Wii đã nhanh chóng cháy hàng trước sự chào đón của hàng nghìn game thủ đứng, ngồi, xếp hàng tại các cửa hàng. Một số người khác còn cắm trại qua đêm để chờ mua những model mới nhất của Nintendo. “Tại cửa hàng bán lẻ Toys ở Quảng trường Times, hàng nghìn người xếp hàng để mua Wii. Vì thế, Nintendo Wii vừa được nhập về đã bán hết sạch”, Perrin Kaplan - Phó Chủ tịch của Nintendo tại Mỹ nói. 

 Với chính sách "đại trà hóa video game" và "dụ dỗ người chơi mới", Iwata đang chứng tỏ được sự thành công vượt trội. Cả Wii lẫn chiếc máy chơi game cầm tay DS Lite đều đang "bay vù vù" từ kệ hàng vào túi người dùng. Chỉ trong vòng 8 tháng sau khi ra mắt thị trường, mọi chi phí mà Nintendo bỏ ra để thiết kế, phát triển và sản xuất Wii đã được hoàn vốn và công ty bắt đầu có lãi. Đây quả là một thành tích ấn tượng. 

Kể từ khi ra đời đến nay, Wii đã gây ra một cơn sốt trên thị trường game console thế giới với hơn 25 triệu sản phẩm được tiêu thụ. Thừa thắng xong lên, Nintendo đặt ra mục tiêu phải tiêu thụ được 50 triệu sản phẩm Wii vào giữa năm 2009. Nhờ có thành công to lớn của Wii, lợi nhuận mà Nintendo thu được trong năm tài chính 2007 đã tăng tới 50%, đạt 2,5 tỷ USD. Tổng doanh thu của Nintendo năm 2007 là 16,2 tỷ USD. 

Không bằng lòng với những gì đang có, Satoru Iwata cho biết: “Mục tiêu kinh doanh mà chúng tôi nhắm đến trong thời gian sắp tới là biến Wii từ một sản phẩm không thể thiếu đối với mỗi gia đình thành sản phẩm không thể thiếu đối với mỗi cá nhân”. Để đạt được mục tiêu đó, Iwata cùng Nintendo sẽ liên tục tung ra những phần mềm game mới có một không hai cũng như những dịch vụ hấp dẫn, nhằm mang đến lợi ích tối đa cho người sử dụng. Đặc biệt, dưới sức ép của các đối thủ ngày càng lớn mạnh, Nintendo cần phải sáng suốt khi đưa ra những chiến lược phát triển của mình. Điều đó cần đến tài năng và bản lĩnh của vị chủ tịch chưa đầy 50 tuổi: Satoru Iwata. 

Thanh Hà - Đặng Trực   
(Theo cube.ign.com)

Hỗ trợ

Tư vấn Dự Án 
Quảng Cáo Online
Luật Sư Tư Vấn
Mua bán sáp nhập

Chỉ số chứng khoán

 VN-Index
512.33 3.72 (0.73%)
 HASTC-Index
175.69 1.35 (0.77)
Cập nhật: 2010-01-14

Bảng chứng khoán trực tuyến

CK
CL
Giá
+/-
AAM
1399
34
0.3
ABT
1623
56.5
0
ACL
660
28.9
-0.9
AGF
858
35.9
0.1
AGR
1705
26.4
0.2
ALP
1684
13.4
-0.1
ANV
3412
18.6
0.3
ASP
253
14
0.2
ATA
100
28
0.2
BAS
2318
16.1
0.8
BBC
759
30.8
0.2
BCI
7029
61
-1
BHS
2810
34.5
0.7
BMC
365
63.5
0
BMI
10
21.2
0.8
BMP
81
62.5
3
BT6
70
61.5
0
BTP
293
12.7
0.1
BVH
1245
32.4
1.6
CAD
1020
14.3
-0.3
CII
370
62
-19.3
CLC
105
23.1
0.9
CNT
1329
28
0
COM
0
53
2.5
CSG
7391
12.8
0.6
CSM
1762
75
0.5
CTG
2297
29.1
0
CYC
11
9.1
0.2
D2D
530
55
2.5
DCC
375
26.6
0.6
DCL
1010
56
-1
DCT
6142
15
0.6
DDM
242
12.2
0.3
DHA
2
45
1
DHC
2080
17
-0.8
DHG
420
120
0
DIC
1998
23.2
0
DIG
7335
76
1
DMC
540
53
0
DPM
5966
34.3
0.2
DPR
896
59
2
DQC
435
40.9
-2
DRC
672
129
3
DTT
1
11.5
0.4
DVD
1040
93.5
2
DVP
200
40.9
0.9
DXG
243
70
0.5
DXV
692
12.2
0.6
EIB
41029
23.9
-0.1
FBT
110
15
0
FMC
8345
17.2
0
FPC
177
9.8
-0.4
FPT
2461
78.5
0.5
GDT
133
25
0
GIL
748
35.9
0
GMC
1620
29.2
-0.9
GMD
6408
83
1
GTA
869
12.7
0
HAG
10449
80.5
1.5
HAP
7202
22.8
-1.1
HAS
181
13.2
0.5
HAX
970
17.5
-0.3
HBC
600
35.7
0.8
HCM
3391
63
-0.5
HDC
793
60
3
HLA
10
31
-4.6
HLG
400
25.2
0.3
HMC
769
21
-0.3
HPG
4435
63
-1
HRC
605
39.5
0.3
HSG
6816
51
1
HSI
1094
10.5
0.2
HT1
1589
15.3
0.6
HT2
1280
14.2
0.5
HTV
302
19.3
0.9
HVG
6541
52
0
ICF
1812
15.4
0.5
IFS
1
9.4
0
IMP
58
75
2
ITA
10054
36.9
0
ITC
14233
93
-1
KBC
22277
65
-1
KDC
1076
65.5
1
KHA
1780
26.4
-0.4
KHP
2376
14.9
-0.5
KMR
774
12.8
0
KSH
2871
57
-0.5
KSS
5600
58
2.5
L10
112
18
0.9
LAF
2003
18.9
0.9
LBM
883
16.4
0
LCG
9910
80
-1
LGC
3
32
0.5
LGL
1270
35.7
1.7
LIX
10
63
3
LSS
1371
43
1.5
MCG
4092
36.7
0.5
MCP
10
13.8
0.5
MCV
424
19.5
0.9
MHC
1166
9.5
-0.1
MPC
1223
32.9
0
MSN
247
34
0.9
MTG
620
12
-0.1
NAV
1
14.8
0.1
NBB
1611
74
3
NKD
401
46
1
NSC
25
38
0.9
NTL
2094
138
-1
OPC
1
53
0
PAC
91
77
3.5
PET
4796
24.3
-0.3
PGC
763
24.3
0
PGD
1100
55
0
PHR
1221
38.3
0.6
PHT
550
36.1
0.9
PIT
287
13.9
0
PJT
165
11.6
0
PNC
1019
9.9
-0.2
PNJ
570
57.5
1
PPC
5147
20.6
0
PTC
550
11.1
0.2
PVD
1965
65
0
PVF
3797
32.7
0.1
PVT
12415
15.2
-0.3
RAL
6040
31.1
-1.4
RDP
25
19.4
0.8
REE
6034
45.7
-0.1
RIC
423
35.9
0.1
SAM
260
30.3
1.5
SAV
200
38
1.9
SBT
8392
12.3
0.1
SC5
3509
61
1.5
SCD
500
25.9
-0.9
SFC
10
47.5
0.5
SFI
1079
37
0
SGT
162
25.5
0.3
SHI
789
29.5
0
SJD
102
20.2
0.5
SJS
7738
80
1.5
SMC
51
30.5
0.8
SRC
783
67
3
SRF
91
29
1
SSC
100
49.4
-0.4
SSI
24329
90
0
ST8
200
30.3
1.5
STB
51175
24
-0.2
SVC
3650
37.2
-1.2
SZL
669
82.5
-2
TAC
1235
29.5
1.4
TBC
1030
20.3
-0.3
TCL
657
49.8
-1.8
TCM
10895
18.3
-0.6
TCR
413
8.7
0.1
TDH
3105
65
3
TIC
660
14.4
0.6
TIE
71
26.9
-1.3
TIX
1700
64
1
TMP
21
18.6
0.4
TMS
1
35.5
0.5
TNA
157
23.5
-0.3
TNC
1124
14.8
0
TPC
7970
13.5
0.5
TRA
70
55
1
TRC
2985
60
1.5
TRI
414
9.3
-0.3
TS4
2448
40
0.5
TSC
56
31.4
1.2
TTF
503
28
1.4
TTP
10
43.7
0.8
TYA
200
9.2
0
UIC
1482
23
-0.5
VCB
3586
47
-0.6
VFC
2650
12
0
VFG
303
75
0
VHC
400
50
-0.1
VHG
14141
12.9
0.2
VIC
2256
97.5
0
VID
2872
13
0.1
VIP
9154
23.5
-0.3
VIS
315
98.5
4.5
VKP
1200
9.8
0
VNA
623
18.5
0
VNE
515
13.9
0.6
VNG
820
12.9
-0.4
VNI
506
30.2
1.5
VNL
449
22
-1.1
VNM
3060
76
0
VNS
373
43
1
VPH
328
61
3
VPK
210
9.3
0
VPL
819
47
0
VSC
0
89
2
VSG
36
11.7
0.2
VSH
11090
16.9
-0.1
VST
3112
19.9
-0.1
VTB
160
16
0.8
VTO
3227
12.6
-0.1
MAFPF1
1350
6
-0.1
PRUBF1
900
6
-0.1
VFMVF1
8980
14.2
0
VFMVF4
961
8.9
0.4

CK
CL
Giá
+/-
ACB
300
37.5
0.1
AGC
900
13
0.4
ALT
100
24.3
0.2
AMV
300
22
-1.5
B82
600
31.6
1.6
BBS
600
21.6
1.5
BCC
1000
13.4
0.2
BED
100
14.6
0.9
BHC
1000
11.9
0.7
BHV
0
47.7
0
BKC
1300
32.6
2.2
BLF
200
13
0.3
BPC
300
21.6
1.5
BST
500
12.4
-0.4
BTH
200
12.4
0.6
BTS
200
11.8
0.1
BVS
1000
37.7
2.6
BXH
500
19.2
-0.2
C92
100
20.5
1.4
CAN
100
14.4
0.6
CAP
100
17.2
0.8
CCM
200
33.1
2.3
CDC
200
51.4
3.4
CIC
400
17
1.1
CID
200
21.1
0
CJC
100
28.4
0.5
CMC
100
17.8
1.2
CSC
200
36.8
0
CTB
600
20.9
-1.4
CTC
400
11
0.7
CTM
1600
44.2
3
CTN
100
27.1
1.8
CTS
800
19.4
1.1
CVT
200
15.9
-0.6
DAC
100
53.1
3.7
DAD
500
12
0
DAE
100
14
0.8
DBC
1700
33.1
1.9
DBT
400
26
0
DC4
1000
32.4
2.2
DCS
2000
20.2
-0.1
DHI
100
10.7
0.7
DHT
100
26.8
-0.3
DID
2000
29.4
0
DNC
500
16
-1
DNP
200
21.8
0.9
DPC
100
20.5
0.5
DST
500
10
-0.1
DTC
100
86.6
-2.6
DXP
200
64.1
3.9
DZM
4500
36.2
2.1
EBS
1600
13.8
0.3
ECI
300
11.6
0.2
EFI
1000
24.2
1.6
EID
900
19.1
0.4
GGG
200
14.9
0
GHA
100
35.5
2
GLT
100
43
3
HAD
100
37.9
2.6
HAI
200
38.7
-1.2
HBD
1000
14.9
0.4
HBE
1000
8.9
0.1
HCC
0
30.6
0
HCT
1000
14.9
0.7
HEV
300
14.5
0.5
HGM
200
66.7
-3.8
HHC
100
22.6
0.5
HJS
500
15.9
1.1
HLC
400
18.7
0.8
HLY
500
37.5
0.4
HNM
200
13.5
0.4
HOM
2000
14.1
0.5
HPC
500
21
1.4
HPS
3000
14.2
-0.9
HST
0
12.1
0
HTP
500
13
0.5
HUT
500
29.2
2
HVT
200
13.8
0.4
ICG
700
30.3
2.1
ILC
100
18.8
0.2
KKC
200
29.8
2
KLS
1000
32.4
2.2
L18
100
27.4
1.2
L43
700
22.6
0
L44
1000
17.4
0
L61
700
16.4
0.6
L62
400
20.3
1.4
LBE
100
11.4
0.5
LM3
100
12.7
0.8
LO5
100
12.5
0.8
LTC
200
19.3
1.3
LUT
100
15.3
0.7
MAC
500
13.7
0.9
MCO
200
17.2
1.2
MDC
100
16.7
1.1
MEC
500
25.2
1.7
MHL
100
20.2
1.4
MIC
100
105.1
5.8
MKV
200
10.8
0.7
MMC
300
52
3.6
NAG
1000
13
0.8
NBC
1200
40.2
0
NBP
400
24.7
1.3
NGC
0
23.9
0
NHC
300
38.3
1.7
NLC
200
27.9
0.8
NPS
100
23.7
1.3
NST
1000
18.8
1.2
NTP
200
109.1
3.9
NVC
200
18.6
0.3
ONE
1000
16.4
0
PAN
1000
35
1.2
PDC
700
13
-0.6
PGS
1000
23.9
1.6
PGT
200
9.2
0.2
PHC
1000
30.2
0.8
PJC
200
19.5
1.3
PLC
1800
36.3
2.5
PMC
500
32.1
2.1
PMS
100
14.5
-0.3
POT
800
14.5
1
PPG
200
14.5
0
PSC
1000
28.2
1.7
PTM
400
9.8
0.6
PTS
400
25.4
0.5
PVA
1000
33.7
2.1
PVC
200
24.3
0.8
PVE
1300
15.5
1
PVG
200
23.3
1.6
PVI
500
26.9
0.7
PVS
200
31.5
0.4
PVX
400
26.1
1.3
QNC
300
39.7
2.4
QST
100
13.1
0
QTC
100
23.3
0.7
RCL
2000
69.3
1.7
RHC
0
24.5
0
S12
900
36.3
1.7
S55
600
41.5
2.9
S64
900
31.9
2.2
S74
1000
38.3
0.5
S91
300
39.6
2.7
S96
200
40.8
2.8
S99
300
50
3.5
SAF
100
29.7
1.7
SAP
100
12.3
-0.8
SCC
1300
21.9
0.4
SCJ
800
35.5
2
SD2
500
37.7
2.6
SD3
2000
38.7
-0.2
SD4
200
25.7
1.7
SD5
1000
63.1
2.3
SD6
1800
42.2
2.9
SD7
1000
51.1
3.5
SD8
200
25.8
1.8
SD9
200
59.2
4.1
SDA
300
43.6
3
SDC
400
27.4
1.2
SDD
100
25.2
1.7
SDG
1400
24.9
0.1
SDH
1000
81.7
2.3
SDJ
200
23.3
1.5
SDN
100
25.9
1.7
SDP
800
34
2.3
SDS
1000
26.8
1.8
SDT
2000
53.9
3.7
SDU
400
65.3
0.5
SDY
500
37.8
2.2
SEB
4000
15.7
0.5
SED
100
16.1
0.4
SFN
900
20.5
-0.5
SGC
300
20.1
0.9
SGD
1100
12
0
SGH
200
70.4
-4.9
SHB
1000
23.7
0.1
SHC
300
13
0
SHN
600
20.7
1.4
SHS
100
28.5
1.9
SIC
200
36.9
2.5
SJ1
900
22.1
-0.6
SJC
200
28.7
2
SJE
500
39.2
2.7
SJM
300
35.9
2.1
SKS
1000
26.4
1.8
SNG
1800
65.8
4.6
SPP
500
35.4
1.6
SQC
100
149.4
0.1
SRA
100
10.5
0.3
SRB
700
8
0.1
SSM
500
32.4
1.5
SSS
1700
28
1.9
STC
1000
12.4
0.6
STL
400
64.2
4
STP
300
40.4
2.8
SVI
1000
23.6
1.6
TBX
100
26.5
1.3
TC6
100
25.7
0.3
TCS
300
20.5
1.4
TCT
100
62.5
2.5
TDN
100
24.6
0.2
TH1
1000
55.2
2.7
THB
5000
18.5
1.2
THT
300
27.3
1.7
TJC
200
18.2
1.2
TKC
400
27
0.5
TKU
500
16.7
1.1
TLC
1300
9.8
0.4
TLT
4000
12.8
0.8
TMC
500
27.2
1.9
TMX
1600
13.2
-0.4
TNG
200
26.2
0.8
TPH
100
10
0.5
TPP
1100
13.4
0.5
TST
100
30.3
2.1
TV2
200
17.9
1.2
TV3
500
18.3
-0.2
TV4
800
17.1
1.1
TXM
500
10.1
0.6
UNI
200
35
2
V11
200
20.2
1.4
V12
500
28.7
1.8
V15
800
21.5
1.5
VBH
100
12.1
0.7
VC1
500
50.2
3.5
VC2
100
52.3
2.9
VC3
1000
65.1
0.1
VC5
100
21.7
1.5
VC6
100
30.9
1.2
VC7
2000
31.3
2.1
VC9
2100
31.3
2.1
VCC
700
22.7
1.5
VCG
200
56
3.4
VCS
300
58.6
2.9
VDL
3000
34.6
-0.6
VE1
100
12
0.5
VE9
500
17.9
0.1
VFR
300
14.4
0.3
VGP
100
26.4
0.8
VGS
1700
23.5
1.6
VHL
100
40.3
0.7
VIG
1000
19.4
1.3
VIT
100
26.7
-0.7
VIX
500
27.3
0.8
VMC
1500
62
2
VMG
700
11.4
0.7
VNC
1600
23.2
0.4
VNR
700
25.5
0.1
VNT
1000
21.9
0.1
VSP
400
29.9
0.1
VTA
4000
10.2
0.2
VTC
100
10.7
0.5
VTL
0
28.5
0
VTS
200
65.5
-1.3
VTV
800
33
2.3
WSS
800
20.3
1.4
XMC
200
33.5
1.5
YBC
600
28
1.9
YSC
100
18.8
1.3

Đơn vị khối lượng: 10cp              VincomSC
Xem bảng chứng khoán đầy đủ: VNDirect  FPTS

Chuyện cười luật sư

Một ông già ốm rất nặng. Cảm thấy mình đã gần đất xa trời, ông liền cho mời tới nhà một luật sư lừng 

Vị giáo sư luật học yêu cầu một sinh viên xuất sắc trả lời câu hỏi tình huống: