I. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH THẨM ĐỊNH GIÁ.
Doanh nghiệp và thẩm định viên phải tuân theo đầy đủ trình tự sáu (6) bước sau
đây:
- Bước 1: Xác
định tổng quát về tài sản cần thẩm định giá và xác định giá trị thị trường hoặc
phi thị trường làm cơ sở thẩm định giá.
- Bước 2: Lập
kế hoạch thẩm định giá.
- Bước 3: Khảo
sát hiện trường, thu thập thông tin.
- Bước 4: Phân
tích thông tin.
- Bước 5: Xác
định giá trị tài sản cần thẩm định giá.
- Bước 6: Lập
báo cáo và chứng thư kết quả thẩm định giá.
II. QUY
TRÌNH THỰC HIỆN CHI TIẾT.
1. Xác
định tổng quát về tài sản cần thẩm định giá và loại hình giá trị làm cơ sở thẩm
định giá.
1.1. Các đặc điểm cơ bản về pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của tài
sản cần thẩm định giá.
1.2. Mục đích thẩm định giá: Thẩm định viên phải xác định và nhận
thức mục đích thẩm định giá của khách hàng. Mục đích thẩm định giá phải được
nêu rõ trong báo cáo thẩm định giá.
1.3. Xác định khách hàng, yêu cầu của khách hàng; những người sử
dụng kết quả thẩm định giá.
1.4. Những điều kiện ràng buộc trong xác
định đối tượng thẩm định giá:
1.5. Thẩm định viên phải đưa ra những giả thiết và những điều
kiện bị hạn chế đối với: những yêu cầu và mục đích thẩm định giá của khách
hàng; những yếu tố ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về:
tính pháp lý, công dụng của tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và
nghĩa vụ của thẩm định viên theo hợp đồng thẩm định giá.
1.6. Việc đưa ra những điều kiện hạn chế và ràng buộc của thẩm
định viên phải dựa trên cơ sở:
- Có sự xác
nhận bằng văn bản của khách hàng và trên cơ sở nhận thức rõ ràng những điều
kiện đó sẽ tác động đến bên thứ ba thông qua kết quả thẩm định giá.
- Phù hợp với
quy định của luật pháp và các quy định hiện hành khác có liên quan.
- Trong quá
trình thẩm định giá, nếu thẩm định viên thấy những điều kiện hạn chế và ràng buộc
đưa ra là không chặt chẽ hoặc thiếu cơ sở thì phải xem xét lại và thông báo
ngay cho giám đốc doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và cho khách hàng.
1.7. Xác định thời điểm thẩm định giá.
Việc xác định
đặc điểm, bản chất (tự nhiên, pháp lý) của tài sản cần thẩm định giá phải được
thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng thẩm định giá và ý kiến đánh giá về giá trị
của tài sản được đưa ra trong phạm vi thời gian cho phép của hợp đồng.
1.8. Xác định nguồn dữ liệu cần thiết cho thẩm định giá.
1.9. Xác định cơ sở giá trị của tài sản.
Trên cơ sở xác
định khái quát về đặc điểm, loại hình tài sản cần thẩm định giá, thẩm định viên
cần xác định rõ loại hình giá trị làm cơ sở cho việc thẩm định giá: giá trị thị
trường hay giá trị phi thị trường.
- Giá trị thị
trường: được xác định tuân theo những quy định tại tiêu chuẩn thẩm định giá số
01 (TĐGVN 01).
- Giá trị phi
thị trường: được xác định tuân theo những quy định tại tiêu chuẩn thẩm định giá
số 02 (TĐGVN 02).
Việc xác định
giá trị làm cơ sở cho thẩm định giá phải phù hợp với những quy định của pháp
luật hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành.
2. Lập
kế hoạch thẩm định giá.
2.1. Việc lập kế hoạch một cuộc thẩm định giá nhằm xác định rõ
những bước công việc phải làm và thời gian thực hiện từng bước công việc cũng
như toàn bộ thời gian cho cuộc thẩm định giá.
2.2. Nội dung kế hoạch phải thể hiện những công việc cơ bản sau:
- Xác định các
yếu tố cung-cầu thích hợp với chức năng, các đặc tính và các quyền gắn liền với
tài sản được mua/bán và đặc điểm thị trường.
- Xác định các
tài liệu cần thu thập về thị trường, về tài sản, tài liệu so sánh.
- Xác định và
phát triển các nguồn tài liệu, đảm bảo nguồn tài liệu đáng tin cậy và phải được
kiểm chứng.
- Xây dựng tiến
độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và phân tích dữ liệu, thời hạn cho
phép của trình tự phải thực hiện.
- Lập đề cương
báo cáo kết quả thẩm định giá.
3. Khảo
sát hiện trường, thu thập thông tin.
3.1. Khảo sát hiện trường
Thẩm định viên
phải trực tiếp khảo sát hiện trường:
- Đối với máy
móc thiết bị, dây chuyền công nghệ: Thẩm định viên phải khảo sát và thu thập số
liệu về tính năng kỹ thuật (công suất, năng suất, công dụng) vị trí, đặc điểm,
quy mô, kích thước, độ mới, cũ của tài sản cần thẩm định giá và các tài sản so
sánh.
- Đối với bất
động sản, thẩm định viên phải khảo sát và thu thập số liệu về:
+ Vị trí thực
tế của bất động sản so sánh với vị trí trên bản đồ địa chính, các mô tả pháp lý
liên quan đến bất động sản.
+ Chi tiết bên
ngoài và bên trong bất động sản, bao gồm: diện tích đất và công trình kiến
trúc; khung cảnh xung quanh, cơ sở hạ tầng (cấp và thoát nước, viễn thông,
điện, đường), loại kiến trúc, mục đích sử dụng hiện tại, tuổi đời, tình trạng
duy tu, sửa chữa…
+ Đối với công
trình xây dựng dở dang, thẩm định viên phải kết hợp giữa khảo sát thực địa với
báo cáo của chủ đầu tư, nhà thầu đang xây dựng công trình.
- Trong quá
trình khảo sát, để có đầy đủ chứng cứ cho việc thẩm định giá, thẩm định viên
cần chụp ảnh tài sản theo các dạng (tòan cảnh, chi tiết), các hướng khác nhau.
3.2. Thu thập thông tin.
Bên cạnh thông
tin, số liệu thu thập từ khảo sát hiện trường, thẩm định viên phải thu thập các
thông tin sau:
- Các thông tin
liên quan đến chi phí, giá bán, lãi suất, thu nhập của tài sản so sánh.
- Các thông tin
về yếu tố cung - cầu, lực lượng tham gia thị trường, động thái người mua -
người bán tiềm năng.
- Các thông tin
về tính pháp lý của tài sản.
- Với bất động
sản cần thu thập thêm các thông tin:
+ Các số liệu
về kinh tế xã hội, môi trường, những yếu tố tác động đến giá trị, những đặc
trưng của thị trường tài sản để nhận biết sự khác nhau giữa khu vực tài sản thẩm
định giá toạ lạc và khu vực lân cận.
+ Các thông tin
về những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của tài
sản (địa chất, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hành chính, cơ sở hạ
tầng…).
- Để thực hiện
thẩm định giá, thẩm định viên phải dựa trên những thông tin thu thập từ các
nguồn: khảo sát thực địa; những giao dịch mua bán tài sản (giá chào, giá trả,
giá thực mua bán, điều kiện mua bán, khối lượng giao dịch…) thông qua phỏng vấn
các công ty kinh doanh tài sản, công ty xây dựng, nhà thầu, ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng; thông tin trên báo chí (báo viết, nói, hình) của địa phương,
trung ương và của các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường tài sản; thông tin
trên các văn bản thể hiện tính pháp lý về quyền năng của chủ tài sản, về các
đặc tính kinh tế, kỹ thuật của tài sản, về quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội
của vùng có liên quan đến tài sản. Thẩm định viên phải nêu rõ nguồn thông tin
trong báo cáo thẩm định giá và phải được kiểm chứng để bảo đảm độ chính xác của
thông tin.
4. Phân
tích thông tin.
Là quá trình
đánh giá tác động của các yếu tố đến mức giá của tài sản cần thẩm định.
4.
1. Phân tích những thông
tin từ khảo sát hiện trường tài sản.
4.
2. Phân tích những đặc
trưng của thị trường tài sản cần thẩm định giá.
a. Bản chất và hành vi ứng xử của những người tham gia thị
trường.
- Đối với tài
sản thương mại hoặc công nghiệp, bao gồm: đặc điểm của mỗi lĩnh vực (thương mại
hoặc công nghiệp) hình thành nên những nhóm cung và cầu về tài sản, hình thức
sở hữu của pháp nhân tham gia thị trường (công ty tư nhân hay sở hữu nhà nước,
liên doanh…); mức độ mở rộng thị trường tài sản loại này với những người mua
tiềm năng.
- Đối với tài
sản là nhà cửa dân cư, bao gồm: tuổi tác, cơ cấu gia đình, mức độ thu nhập của
nhóm cung và nhóm cầu, mức độ mở rộng thị trường tài sản loại này với những
người mua tiềm năng.
b. Xu hướng cung cầu trên thị trường tài sản.
- Những xu
hướng tăng giảm về nguồn cung, tăng giảm về nhu cầu của những tài sản tương tự
hiện có trên thị trường.
- Ảnh hưởng của
xu hướng trên đến giá trị tài sản đang thẩm định giá.
4.
3. Phân tích về khách hàng:
- Đặc điểm của
những khách hàng tiềm năng.
- Sở thích của
khách hàng về vị trí, quy mô, chức năng và môi trường xung quanh tài sản.
- Nhu cầu, sức
mua về tài sản.
4. 4. Phân tích về việc sử dụng tốt nhất và tối ưu tài sản.
- Thẩm định
viên cần xem xét khả năng sử dụng tốt nhất một tài sản trong bối cảnh tự nhiên,
hoàn cảnh pháp luật và tài chính cho phép và mang lại giá trị cao nhất cho tài
sản.
- Thẩm định
viên cần đánh giá cụ thể việc sử dụng tài sản trên các khía cạnh:
+ Sự hợp lý,
tính khả thi trong sử dụng tài sản, xem xét đến mối tương quan giữa việc sử
dụng hiện tại và sử dụng trong tương lai.
+ + Sự thích
hợp về mặt vật chất, kỹ thuật đối với việc sử dụng tài sản: xác định và mô tả
đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tính hữu dụng của tài sản.
+ Sự hợp pháp
của tài sản trong việc sử dụng, những hạn chế riêng theo hợp đồng, theo quy
định của pháp luật.
+ Tính khả thi
về mặt tài chính: phân tích việc sử dụng tiềm năng của tài sản trong việc tạo
ra thu nhập, xem xét tới các yếu tố giá trị thị trường, mục đích sử dụng trong
tương lai, chi phí phá bỏ và giá trị còn lại của tài sản, lãi suất, rủi ro, giá
trị vốn hoá của tài sản.
+ Hiệu quả tối
đa trong sử dụng tài sản: xem xét đến năng suất tối đa, chi phí bảo dưỡng, các
chi phí phát sinh cho phép tài sản được sử dụng đến mức cao nhất và tốt nhất.
5. Xác
định giá trị tài sản cần thẩm định giá.
- Thẩm định
viên phải nêu rõ các phương pháp được áp dụng để xác định mức giá trị của tài
sản cần thẩm định giá.
- Phương pháp
thẩm định giá quy định tại tiêu chuẩn số 07 (TĐGVN 07) “Các phương pháp thẩm
định giá.”
- Thẩm định
viên cần phân tích rõ mức độ phù hợp của 01 hoặc nhiều phương pháp trong thẩm
định giá được sử dụng với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản và với mục đích
thẩm định giá.
- Thẩm định
viên cần nêu rõ trong báo cáo thẩm định phương pháp thẩm định giá nào được sử
dụng làm căn cứ chủ yếu, phương pháp thẩm định giá nào được sử dụng để kiểm tra
chéo, từ đó đi đến kết luận cuối cùng về giá trị thẩm định.
6. Lập
báo cáo và chứng thư thẩm định giá.
Nội dung báo
cáo, chứng thư thẩm định giá thực hiện theo quy định tại tiêu chuẩn số 04
(TĐGVN 04) về “Báo cáo kết quả, hồ sơ, chứng thư thẩm định giá.”
Tp. HCM, ngày tháng năm 2010
Giám đốc công ty
Liên hệ dịch vụ thẩm
định giá:
Công ty Luật Bắc Việt
Địa chỉ: Số 39b, Lô 6,
Trung Yên 14, Khu Đô Thị Mới Trung Yên, Hà Nội
Phone: 01687696666 -
01686319999
Mail:
dinhgia@bacvietluat.vn hoặc ceo@bacvietluat.vn
www.Lawvn.net -
www.thamdinhgia.info - Luật Sư Dũng
Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...
Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.