Một số nét tổng quan về hệ thống pháp luật, chính sách quy định hoạt động ĐTRNN của Việt Nam
Trong xu hướng toàn cầu, cùng với việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ( ĐTTTRNN) là phương thức không thể thiếu được của một quốc gia thực hiện chính sách mở cửa để hội nhập kinh tế quốc tế. ĐTTTRNN là một xu thế tất yếu của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên bên ngoài để bổ sung cho những thiếu hụt trong nước, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khâủ của nước sở tại để mở rộng thị trường; tiếp cận khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ quản lý. Do sớm nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư ra nước ngoài nên chính phủ và các cơ quan quản lý chức năng đã sớm ban hành các văn bản pháp lý để điều chỉnh hoạt động này nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư và công tác quản lý có hiệu quả hơn.

            1. Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm ban hành Luật đầu tư chung 2005

Hoạt động ĐTRNN là một hướng đi mới của các doanh nghiệp Việt Nam, mang lại nhiều tiềm năng cho doanh nghiệp. Hoạt động này đã bắt đầu diễn ra vào những năm 90, đi tiên phong trong ĐTRNN là một số doanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên giới với một số nước bạn ( Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạn theo thoả thuận hợp tác song phương giữa chính quyền hai nước.

            Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động ĐTRNN. Như vậy, sau hơn 10 năm thực thi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành, mở đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này. Mặc dù hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được  ban hành đầu năm 1999, thế nhưng trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động ĐTRNN. Theo Nghị định 22/1999/NĐ-CP thì tại điều 1 nêu rõ: " Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp VN là việc doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài". Nghị định cũng nêu rõ các doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện là: Dự án đầu tư ra nước ngoài có tính khả thi; Doanh nghiệp không nợ nghĩa vụ tài chính, thuế với nhà nước. Tại điều 6 có nêu: " Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhưng có vốn đầu tư ra nước ngoài có giá trị từ 1 triệu đô la Mỹ trở lên phải tuân thủ quy định xin phép đầu tư ra nước ngoài" – nghĩa là khi muốn đầu tư ra nước ngoài, hai đối tượng nêu trên phải gửi bộ hồ sơ đầu tư ra nước ngoài dến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin được xét duyệt cấp giấy phép đầu tư; còn đối với những doanh nghiệp không thuộc hai đối tượng nêu trên thì chỉ cần đăng ký tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thời hạn xét duyệt để chấp nhận đăng ký đầu tư hoặc cấp phép đầu tư ra nước ngoài là 30 ngày.

Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Các văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đó là:

-       Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

-       Quyết định số 116/2001/QĐ- TTg ngày 02/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số ưu đãi khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí.

-       Thông tư số 05/2001/TT- BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

-       Thông tư số 97/2002/TT- BTC ngày 24/10/2002 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

-       Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 6, mục III Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp lý sau:

-       Quyết định số 158 QĐ- CTN ngày 26/01/1994 của Chủ tịch nước về việc phê chuẩn Công ước thành lập tổ chức Đảm bảo đầu tư đa biên ( MIGA).

-       Công ước thành lập tổ chức Đảm bảo đầu tư đa biên ( MIGA).

-       Nghị định số 63/1998- NĐ/CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối.

-       Thông tư số 01/1999 TT/ NH- NN ngày 16/04/1999 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/1998- NĐ/CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối.

-       Nghị định số 05/2001/NĐ- CP ngày 17/01/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/1998 NĐ-CP ngày 17/08/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối.

-       Quyết định số 61/2001/QĐ-TTg ngày 25/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức.

-       Thông tư số 05/2001 TT/ NH- NN ngày 31/05/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành Quyết định số 61/2001/ QĐ- TTg ngày 25/04/2001 của Thủ tướng chính phủ về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ cảu người cư trú là tổ chức.

-       Quyết định số 10/76/2001/QĐ/NH-NN ngày 27/08/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc bổ sung, sửa đổi một số điểm tại Thông tư số 05/2001/TT/NH-NN ngày 31/05/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành Quyết định số 61/2001/QĐ- TTg ngày 25/04/2001 của Thủ tướng chính phủ về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức.

-       Nghị định số 05/2001/NĐ-CP ngày 03/03/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

Ngoài ra còn một số văn bản khác liên quan đến hoạt động xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam do Bộ công an và Bộ ngoại giao ban hành.

            Sự ra đời của các văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã tạo ra một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo môi trường ổn định, thông thoáng nhằm khuyến khích các doanh  nghiệp đầu tư ra nước ngoài.

            Các văn bản pháp lý đưa ra điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài một mặt nhằm kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này như tại thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/08/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam có quy định: đối với những dự án đầu tư ra nước ngoài mà chủ đầu tư không thuộc thành phần kinh tế nhà nước và có vốn đầu tư dưới 1 triệu đô la Mỹ được quy định tại khoản 2 điều 6 Nghị định 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999  của chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam phải lập hồ sơ dự án theo quy trình đăng ký cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư; còn đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài (không phân biệt quy mô và mục đích đầu tư) và các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế khác có vốn đầu tư từ 1 triệu đô la Mỹ trở lên phải lập hồ sơ dự án theo quy trình thẩm định cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tại Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 của chính phủ về quản lý ngoại hối tại chương IV các giao dịch vốn có nêu rõ: " Nhà đầu tư Việt Nam được chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài. Vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải chuyển qua tài khoản mở tại ngân hàng". Theo thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam quy định về việc mở và sử dụng tài khoản. Để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải mở một tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối. Mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp phải thực hiện hông qua tài khoản này; đồng thời trường hợp doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư hoặc kéo dài thời hạn đầu tư ở nước ngoài thì sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư doanh nghiệp phải đăng ký với chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Hàng năm trong thời hạn 6 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính của nước tiếp nhận đầu tư, doanh nghiệp phải gửi cho chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính ( trong đó có bảng tổng kết tài sản và kết quả kinh doanh lãi- lỗ của doanh nghiệp) có chứng nhận của cơ quan kiểm toán hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư.

            Mặt khác, các văn bản pháp lý này cũng đưa ra một số ưu đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài như tại thông tư số 97/2002/TT-BTC của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Đó là, máy móc, thiết bị, bộ phận rời xuất khẩu ra nước ngoài để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại nước ngoài khi thanh lý hoặc kết thúc dự án và được nhập khẩu trở lại vào Việt Nam, được miễn thuế nhập khẩu và thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Còn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp ( hoặc một  loại thuế có bản chất tương tự như thuế thu nhập doanh nghiệp) ở nước ngoài, khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được  đối tác nước tiếp nhận đầu tư trả thay ( kể cả đối với tiền lãi cổ phần) nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theo quy định của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

            Riêng đối với lĩnh vực dầu khí, theo Quyết định số116/2001/QĐ-TTg ngày 2/8/2001 của Thủ tướng chính phủ về một số ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí. Chính phủ áp dụng một số ưu đãi, khuyến khích đối với hình thức đầu tư 100% vốn hoặc góp vốn theo tỷ lệ tham gia trong lĩnh vực hoạt động dầu khí bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí; kể cả các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt động dầu khí và khi xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam đối với các dự án dầu khí đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp được trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được nước tiếp nhận đầu tư trả thay ( có chứng từ hợp lệ).

            Các văn bản này đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời nó cũng khơi thông một dòng chảy mới về vốn đầu tư. Song, do được ban hành ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang giảm sút, pháp luật về ĐTRNN nhìn chung mang tính thận trọng, tính kiểm soát hơn là tính khuyến khích các doanh nghiệp ĐTRNN, cụ thể là:

-       Trong giai đoạn này, Nghị định số 22/1999/NĐ-CP là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định về hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam; chủ trương khưyến khích ĐTRNN chưa được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và pháp luật. Chính vì vậy, nội dung chính của Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành là quy định về các trình tự thủ tục để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước.

-       Thủ tục hành chính trong việc cấp phép ĐTRNN tương đối phức  tạp, kéo dài nhất là đối với trường hợp sử dụng vốn nhà nước. Mặc dù Nghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định quy trình đăng ký và thẩm định cấp giấy phép đầu tư nhưng phạm vi áp dụng quy trình thẩm định rất rộng; nhiều trường hợp phải trình thủ tướng chính phủ trước khi cấp giấy phép đầu tư.

-       Ngoại trừ một số quy định liên quan đến nguyên tắc tránh đánh thuế trùng và chính sách ưu đãi ĐTRNN trong lĩnh vực hoạt động dầu khí, pháp luật về ĐTRNN không quy định chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam khi ĐTRNN.

-       Trong giai đoạn này, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư cũng như việc chuyển lợi nhuận về nước. Đối với những doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài nhưng hạn chế về nguồn vốn thì lại chưa có một cơ chế nào quy định về việc cho vay ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài.

-       Đối tượng được phép đầu tư ra nước ngoài chỉ bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuy không bị cấm ĐTRNN nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 22/1999/NĐ-CP mà theo quy định riêng của chính phủ. Tuy nhiên trên thực tế, Chính phủ cũng không ban hành bất cứ một văn bản pháp lý nào quy định về việc ĐTRNN của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khung pháp luật về ĐTRNN nói trên phù hợp với giai đầu khi ta đầu tư ra nước ngoài chưa có kinh nghiệm và số lượng dự án ĐTRNN còn ít, quy mô vốn chưa lớn. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Đại Hội IX của Đảng tháng 4 năm 2001 đã chính thức xác định chủ trương: " Khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài", nhà nước có vai trò " Tạo ra khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài để phát huy lợi thế so sánh của đất nước". Chủ trương nêu trên đã nhanh chóng tác động đến hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, khi số lượng các dự án cũng như quy mô các dự án tăng lên thì khung pháp luật trên đã bộc lộ những hạn chế gây khó khăn, lúng túng cho nhà đầu tư  khi đem vốn, tài sản đi đầu tư ở nước ngoài; mặt khác không đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này.

2. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Trước những khó khăn của các doanh nghiệp đang gặp phải cũng như công tác quản lý của nhà nước không được đảm bảo. Năm 2005 Luật đầu tư được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật Đầu tư  đã dành hẳn một chương quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Đến năm 2006, nhằm kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực và khắc phục hạn chế của hệ thống luật hiện hành về ĐTRNN và nâng cao quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp, Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được Chính phủ ban hành ngày 09/8/2006 ( thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999) với mục tiêu chính là:

-       Phù hợp với thực tiễn hoạt động và yêu cầu của hoạt động ĐTRNN; cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động ĐTRNN bình đẳng như các doanh nghiệp Việt Nam.

-       Quy định rõ ràng, cụ thể và minh bạch hơn các vấn đề liên quan đến thủ tục đầu tư theo hướng giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước và tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp;

-       Tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ĐTRNN.

Tinh thần chung của Nghị định 78/2006/NĐ-CP là quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đều có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ; giảm thiểu các quy định mang tính "xin- cho" hoặc "phê duyệt" bất hợp lý, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, nhưng có tính đến lộ trình cam kết trong các thoả thuận song phương và đa phương trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc.

Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần được hoàn thiện hơn thông qua ban hành Luật Đầu tư  năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP. Thủ tục ĐTRNN được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, ngày 21/12/2006, Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành thông tư số 10/2006/TT- NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối được cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với điều kiện: dự án đầu tư không thuộc danh mục các lĩnh vực bị cấm, hạn chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ quy định; có vốn chủ sở hữu ( bao gồm: vốn của chủ sở hữu, các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối) tham gia vào tổng mức vốn đầu tư của dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của tổ chức tín dụng. Các tổ chức tín dụng cũng được xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của khách hàng vay hoặc bên thứ ba ở nước ngoài, tài sản của pháp nhân được hình thành từ dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các bên thực hiện theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư ( nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam); tổ chức tín dụng nhận bảo đảm bằng tài sản ở nước ngoài phải có khả năng quản lý tài sản trong quá trình cho vay, xử lý được tài sản đó để thu hồi nợ, khi khách hàng vay không trả được nợ.

Ngày 25/7, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2007/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí. Theo đó, Thủ tướng chấp thuận đầu tư với các dự án dầu khí sử dụng vốn Nhà nước từ 1000 tỷ đồng trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế khác từ 3000 tỷ đồng trở lên. Các dự án dầu khí không thuộc quy định trên do đại diện chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư quyết định.

Với việc ban hành, sửa đổi bổ sung một số văn bản đã tạo ra khung pháp luật thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam vững bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0996322948
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Lê Thị Xuyên
  • 0978053957
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0938188889
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • ĐIỂM TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.