Thống nhất một cơ quan đăng ký kinh doanh
Tất cả các loại hình tổ chức kinh doanh như công ty nhà nước, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể, các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh, các công ty bảo hiểm, các chi nhánh công ty nước ngoài tại VN.... Tất cả đều phải được đăng ký kinh doanh tại một cơ quan thống nhất, theo một thủ tục đơn giản nhất để thực hiện các hoạt động kinh doanh.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUY ĐỊNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP THỐNG NHẤT MỘT CƠ QUAN ĐĂNG KÝ KINH DOANH THỐNG NHẤT ÁP DỤNG CHO TẤT CẢ CHỦ THỂ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM

 

I- Mở đầu:

ĐKKD là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, đồng thời là một công cụ để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân. Thông qua cơ chế đăng ký công nhận quyền  kinh doanh của công dân, thực hiện một cơ chế quản lý mới của nhà nước, xoá bỏ cơ chế xin cho tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân, dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Mặt khác theo lộ trình hôị nhập WTO, chúng ta phải thực hiện nguyên tắc đối xử bình đẳng đối với mọi chủ thể kinh doanh, không phân biệt hình thức sở hữu. Theo kiểu con anh, con em, con chúng ta, con chúng nó.

Lộ trình hội nhập đã đến rất gần, đã đến lúc cần có một cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất trong toàn quốc, từ trung ương đến địa phương để đăng ký cho mọi loại hình doanh nghịêp, hoạt động theo luật DN thống nhất và các chủ thể kinh doanh khác trong xã hội.

Tất cả các loại hình tổ chức kinh doanh như công ty nhà nước, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể, các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh, các công ty bảo hiểm, các chi nhánh công ty nước ngoài tại VN.... Tất cả đều phải được đăng ký kinh doanh tại một cơ quan thống nhất, theo một thủ tục đơn giản nhất để thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Luật doanh nghiệp thống nhất sẽ điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp trong đó có cả công ty nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được điều chỉnh chung một luật - Giờ G đã điểm .

Từ yêu cầu của cuộc sống đòi hỏi việc đăng ký các doanh nghiệp trong luật doanh nghiệp thống nhất sẽ rất linh hoạt, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư một cách thuận lợi nhất, điều này đặt ra nội dung nâng cao trình độ cho cơ quan ĐKKD. Đòi hỏi phải kiện toàn về tổ chức nâng cao trình độ, trách nhiệm và phong cách phục vụ theo yêu cầu hội nhập.

II- Lịch sử cơ quan ĐKKD ở VN

- Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ Tướng Chính Phủ) đã cho phép thành lập Vụ Quản lý Đăng ký kinh doanh thuộc Trọng tài Kinh tế nhà nước để “ Giúp chủ tịch trọng tài Kinh tế nhà nước dự thảo các văn bản hướng dẫn và theo giõi việc thực hiện luật lệ nhà nước và các văn bản hướng dẫn việc ĐKKD ” ( thông báo số 3057 - TH ngày 16 / 09 / 1991 của hội đồng Bộ trưởng). Cũng theo thông báo này thì ở địa phương đã cho phép thành lập Phòng ĐKKD thuộc trọng tài Kinh tế để tiến hành ĐKKD cho các doanh nghiệp trong phạm vi cả nước. Cũng ngay từ thời gian này vấn đề tin học hoá công tác  ĐKKD đã được đặt ra. Thông tư số 07/ TT- ĐKKD ngày 29/07/1991 của trọng tài kinh tế nhà nước đã quy định: “Trọng tài kinh tế nhà nước thực hiện việc quản lý ĐKKD bằng máy tính”.

Năm 1994, sau khi trọng tài kinh tế nhà nước bị giải thể thì nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐKKD chuyển sang hệ thống cơ quan kế hoạch và đầu tư ( quyết định số 355 - TTG ngày 11/7/1994 của Thủ Tướng Chính Phủ). Ở trung ương, Uỷ ban kế hoạch nhà nước giao nhiệm vụ này cho vụ kế hoạch hoá thực hiện. Ở địa phương , sở kế hoạch và đầu tư đựơc giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện vịêc ĐKKD cho các doanh nghiệp.

Do việc chuyển cơ quan quản lý ĐKKD từ trọng tài kinh tế nhà nước sang hệ thống kế hoạch nhà nước nên việc tổ chức hệ thống cơ quan ĐKKD cũng như việc tin học hoá hệ thống này tạm thời bị quên lãng.

Cuối năm 1999, để chuẩn bị cho việc triển khai thi hành luật doanh nghiệp, tại thông báo số 188/TB - VPCP ngày 29/09/1999 của văn phòng chính Phủ về một số vấn đề cấp bách trong việc hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp, phó Thủ Tướng Chính Phủ đã nêu rõ : “Tư tưởng chỉ đạo là hình thành hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất trong cả nước có chức năng, nhiệm vụ và cán bộ đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ ĐKKD và quản lý sau  ĐKKD” . Đồng thời, lúc đó, một số bộ, ngành cũng đã nhận thức rõ hơn về sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống cơ quan ĐKKD thống nhất.Ví dụ, Bộ Tài Chính, tại văn bản số 5457 TC/TCDN ngày 29/10/1999 gửi Bộ Tư Pháp, ban đổi mới doanh nghiệp trung ương và ban nghiên cứu của thủ Tướng Chính Phủ đã đề nghị chính phủ tổ chức ĐKKD thành một cơ quan thống nhất từ trung ương tới địa phương. Tuy nhiên, vì nhận thức vai trò cơ quan ĐKKD trong nền kinh tế thị trường còn có nhiều điểm khác nhau, nên tư tưởng chỉ đạo trên của chính phủ và đề nghị của một số Bộ, ngành vẫn chưa được thực hiện. Điều này được thể hiện thông qua nội dung của một số văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp.

Tại nghi định số 02/2000/NĐ - CP ngày 03/02/2000 về ĐKKD, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư sáu nhiệm vụ liên quan đến việc quản lý nhà nước về ĐKKD và giao phòng ĐKKD cấp tỉnh và cấp huyện các nhiệm vụ ĐKKD trực tiếp cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể. Để hướng dẫn nghị dịnh số 02/2000/NĐ - CP về mặt tổ chức, Bộ Kế hoạch Đầu tư và Ban tổ chức, cán bộ của chính phủ ( nay là Bộ nội vụ) cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2000/TTLT - BKH - BTCCBCP ngày 07/06/2000 hướng dẫn về việc ĐKKD ở cấp tỉnh và cấp huyện. Theo thông tư này, ở cấp tỉnh thành lập phòng ĐKKD trong sở kế hoạch và đầu tư; còn ở cấp huyện thì việc thành lập phòng ĐKKD chỉ được thưc hiện đối với những nơi có “số lượng lớn hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã”. Các huyện còn lại không được thành lập phòng ĐKKD nên nhiệm vụ ĐKKD được giao cho phòng chuyên môn đã tồn tại từ trước trong cơ cấu bộ máy của UBND cấp huyện thực hiện. Không có văn bản nào hướng dẫn việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐKKD ở cấp TW.

Những thành tựu thu được sau gần 5 năm thi hành luật DN đã được Đảng, nhà nước và xã hội đánh giá cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luật DN cũng đã xuất hiện một số vấn đề bức xúc liên quan đến hoạt động ĐKKD mà đến nay hầu như chưa tìm được giải pháp để giải quyết. Trong số các vấn đề đó có một vấn đề phức tạp nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ĐKKD là vấn đề kiện toàn tổ chức cơ quan ĐKKD. Tháng 02/2001, Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư đã có quyết định số 75/2001/QĐ-BKH thành lập trung tâm thông tin doanh nghiệp thuộc vụ doanh nghiệp với ba nhóm công việc chính: Chuẩn bị văn bản quy phạm về ĐKKD, xử lý vướng mắc về ĐKKD và tin học hoá công tác ĐKKD.

Từ 29/07/2003, nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐKKD được giao cho Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới hình thức một đơn vị cấp phòng với 4 biên chế và một cán bộ hợp đồng. Công tác tin học hoá ĐKKD được giao cho trung tâm thông tin doanh nghiệp, một đơn vị cấp phòng của cục này với 3 biên chế, 4 hợp đồng.

Ở địa phương, mặc dù đã được pháp luật quy định nhưng trên thực tế, chưa có quận, huyện nào trong phạm vi toàn quốc thành lập được phòng ĐKKD, kể cả ở những nơi có số lượng hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã lên tới hàng vạn. Nhiệm vụ ĐKKD ở cấp  quận, huyện được giao cho 1 hoặc 1/2 cán bộ nằm rải rác trong các phòng chuyên môn đảm nhận. Thậm  chí có nơi như quận Tân Bình - TP HCM, lại chia việc ĐKKD cho 3 phòng khác nhau đảm nhận, dẫn đến tình trạng một hộ kinh doanh 3 lĩnh vực phải có tới 3 giấy chứng nhận ĐKKD (!).

Nếu đánh giá một cách khái quát nhất thì có thể nhận định rằng, cơ quan ĐKKD hiện nay của chúng ta là manh mún về mặt tổ chức, kém về mặt năng lực chuyên môn, và thiếu về lực lượng, nhất là ở cấp TW và cấp quận, huyện. Một bộ máy ĐKKD như vậy rõ ràng là chưa đủ sức để đóng vai trò là đội quân chủ lực trong việc thực thi luật doanh nghiệp thống nhất, đăng ký cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.

III- Kiện toàn cơ quan ĐKKD-Một nhiệm vụ cấp bách trong việc thực hiện Luật doanh nghiệp thống nhất.

Trên thực tế và theo quy định của pháp luật hiện hành thì tất cả công tác ĐKKD cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể đều được thực hiện ở cấp địa phương (cấp tỉnh và huyện). Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ thực hiện một phần nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐKKD. Tuy nhiên, thực tế 5 năm thi hành luật doanh nghiệp đang đặt ra yêu cầu phải kiện toàn cơ quan ĐKKD hiện nay. Sự cần thiết phải tổ chức lại hệ thống này xuất phát từ những nhu cầu thực tế sau đây :

1) Công tác ĐKKD phải là một phương tiện để các nhà đầu tư trong và ngoài nước thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình.

Trước hết, thông qua ĐKKD để xác định địa vị pháp lý của các nhà đầu tư, làm  căn cứ pháp lý để xử lý các tranh chấp nội bộ và phán xử của cơ quan tài phán bảo đảm sự cân bằng các lợi ích của các bên. Thông qua cơ quan ĐKKD, nhà đầu tư có thể thu nhập được các thông tin cần thiết để làm căn cứ cho các quyết định kinh doanh của mình

- Thông qua các hoạt động chuyên môn của cơ quan ĐKKD mà các quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp mới có cơ sở pháp lý được đảm bảo một cách chắc chắn: bảo vệ quyền sở hữu tên doanh nghiệp, tránh việc trùng tên, nhầm lẫn tên doanh nghiệp trên toàn quốc.

- ĐKKD là một hoạt động có nhiều tác dụng, không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với nhà nước. Việc ĐKKD là việc nhà nước thừa nhận địa vị pháp lý cho một nhà đầu tư, nên ĐKKD được coi như là một bộ lọc giúp nhà nước gạt khỏi thương trường những doanh nhân không đủ tư cách, không đủ điều kiện, góp phần làm cho  thương trường trở thành là nơi hội tụ của các nhà kinhn doanh chân chính và đích thực. Nói cách khác, cái lợi thứ nhất của ĐKKD là giúp nhà nước lành mạnh hoá được môi trường kinh doanh. Thông qua việc ĐKKD, nhà nước nắm bắt được một cách đầy đủ và có hệ thống các thông tin về số lượng doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp, về ngành nghề kinh doanh, về số vốn đầu tư, về tình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, biết được địa bàn nào, ngành nghề nào được đầu tư nhiều, địa bàn nào, ngành nghề nào được đầu tư ít ... những thông tin này là những căn cứ rất cần thiết giúp cho cơ quan nhà nước có thêm  cơ sở thực tiễn để đề ra các chính sách quản lý kinh tế cho phù hợp. Cái lợi thứ hai của ĐKKD là giúp nhà nước trong việc hoạch định các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Nhờ có ĐKKD mà nhà nước có đủ thông tin chính xác để cung cấp kịp thời cho bất cứ ai muốn khởi sự doanh nghiệp, giúp họ giảm chi phí khi gia nhập thị trường tạo điều kiện cho việc xã hội hoá đầu tư và ra các quyết định đúng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Tóm lại, một hệ thống cơ quan ĐKKD thì sẽ không đủ sức để bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp cũng như không đảm bảo được lợi ích của nhà nước do đó, việc tăng cường sức mạnh của cơ quan này là điều hết sức cần thiết, nhất là trong điều kiện thực thi luật DN thống nhất.

2) Do đòi hỏi của chính yêu cầu của nghịêp vụ ĐKKD và tính thống nhất của thị trường.

Thực tế, việc quản lý nhà nước về ĐKKD không thể chỉ dừng ở việc ban hành quy phạm mà còn là việc tác động trực tiếp vào những hoạt động nghiệp vụ ĐKKD để định hướng, điều tiết, phối hợp trên phạm vi cả nước trước hết là các nội dung: Đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu tên doanh nghiệp trong cả nước đối với các loại hình doanh nghiệp theo Luật DN thống nhất. Đăng ký nhân thân của người thành lập và quản lý doanh nghiệp; đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện trong quan hệ với doanh nghiệp mẹ ... Xét về bản chất, các loại nghiệp vụ này thường được xem  xét, xử lý ở tầm quốc gia. Song, với các quy định pháp luật và cách tổ chức cơ quan ĐKKD phân tán như hiện nay thì chỉ có thể xử lý một phần  ở phạm vi cấp tỉnh. Và ngày bản thân phòng ĐKKD cấp tỉnh cũng đủ thông tin để bảm đảo tính chính xác của các nội dung ĐKKD. Ví dụ: phát hiện của Tổng cục thuế tại công văn số 2935 TC/MT ngày 12/08/2003 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở thành phố HCM, có một cá nhân đã thành lập và ĐKKD tới 06 doanh nghiệp tư nhân tại thành phố HCM, Đồng Nai và Bình Dương, một cá nhân đăng ký thành lập một hộ kinh doanh cá thể và một DNTN. Báo Tuổi Trẻ ngày 12/9/2003 cũng nêu hiện tượng một đối tượng có lệnh truy nã về tội lạm dụng tín nhiệm ở tỉnh Hải Dương đã thành lập được doanh nghiệp tư nhân ở Gia Lai. Hoặc hiện tượng tên doanh nghiệp gây nhầm lẫn hoặc trùng hoàn toàn ngày càng nhiều trên phạm  vi cả nước. Toàn quốc có tám doanh nghiệp có tên “ Công ty TNHH Phương Đông”, sáu doanh nghiệp có tên “ DNTN Phương Đông”, mười hai doanh nghiệp có tên “ công ty TNHH Bình Minh” và tới 38 doanh nghiệp có từ “ Bình Minh” trong tên đã đăng ký v v... những tồn tại này đã và đang tạo nên những tranh chấp, khiếu nại giữa doanh nghiệp và cơ quan ĐKKD giữa các doanh nghiệp với nhau mà không có cơ quan thẩm  quyền và cơ sở pháp lý để giải quyết. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài thì số lượng tranh chấp  sẽ ngày càng nhiều, môi trường kinh doanh bị rối loạn gây tốn kém về thời gian, chi phí cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Nếu việc quản lý nhà nước về ĐKKD không đủ thẩm quyền để tác động nghiệp vụ thì hoạt động đó chỉ mang tính chất tư vấn, không phải là hoạt động quản lý nhà nước về ĐKKD .Nếu ở cấp TW không được chuyên nghiệp hoá, không đủ thẩm quyền, không đủ sức người, không đủ trình độ chuyên nghiệp,không đủ cơ sở vật chất để can thiệp, định hướng, điều tiết, phối hợp một số nhiệm vụ cơ bản ĐKKD trên phạm vi quốc gia thì việc quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này không thực hiện được đầy đủ quyền quản lý và bảo hộ nhà nước đối với doanh nghiệp ở tầm vĩ mô. Đáng tiếc là việc triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐKKD hiện nay đang rơi vào tình trạng đó.

Tại sao một cá nhân lại có thể thành lập được nhiều doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh cá thể, một người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, một người không đủ năng lực hành vi lại có thể thành lập được doanh nghiệp ? Tại sao có tình trạng các doanh nghiệp trùng tên nhau quá nhiều ? vv.. Nếu nhìn về hình thức thì các cơ quan ĐKKD là người có lỗi. Song, xét về nguyên nhân sâu sắc thì họ lại không có lỗi bởi vì làm sao có thể đòi hỏi một phòng ĐKKD nằm trong một sở với ba đến bốn cán bộ có thể nắm được đầy đủ các thông tin về nhân thân về người thành lập và quản lý doanh nghiệp trong cả nước vốn dĩ thuộc về nhiệm vụ quản lý nhà nước của hàng loạt cơ quan ở TW và địa phương, và làm sao có thể cập nhật việc đặt tên doanh nghiệp của 64 tỉnh và hơn 600 huyện, quận trong điều kiện cơ quan ĐKKD tổ chức phân tán như hiện nay .... Tất cả những vướng mắc đó đã được bàn và phê phán nhiều nhưng chưa quýêt tâm, chưa nhận thức đúng vai trò của cơ quan ĐKKD trong cơ chế thị trường thống nhất. Thử nêu một ví dụ về nhân thân, để có thể nắm bắt về đối tượng bị toà tước quỳên kinh doanh  hoặc không đủ năng lực hành vi dân sự thì đòi hỏi phải có sự phối hợp của hàng loạt cơ quan ở TW và địa phương như toà án như toà án, công an, tư pháp, y tế trong đó phải có một đơn vị chủ trì đứng ra điều phối chung. Và tất cả những đìêu này đã vượt khỏi tầm kiểm  soát của một phòng ĐKKD trong Sở Kế hoạch và Đầu tư hiện nay,hay một cán bộ không chuyên làm  nhiệm vụ ĐKKD ở cấp quận ,huyện. Nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề đó khó có thể thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ quản lý Nhà nước về ĐKKD và những tồn tại, sai phạm về ĐKKD mà ta đã đề cập trong hàng chục năm qua không thể khắc phục được, tình trạng cơ quan ĐKKD luôn bị đổ lỗi oan uổng trong thực tế là khó tránh khỏi - ĐKKD vẫn là đau khổ kéo dài.

3) Do khối lượng nghiệp vụ ĐKKD ngày càng tăng.

Qua gần 5 năm  thi hành luật doanh nghiệp, cơ quan ĐKKD cấp tỉnh đã ĐKKD cho hơn 120.000 doanh nghiệp mới với số vốn đăng ký gần 200.000 tỷ đồng, cộng với hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký trong 9 năm trước đó, nâng tổng số doanh nghiệp hiện có của cả nước nên tới hơn 160.000 doanh nghiệp. Các cơ quan ĐKKD cũng đã đăng ký thay đổi, bổ sung về tên, ngành nghề, vốn, địa chỉ, nhân thân, chi nhánh, văn phòng đại diện ... Cho hàng trăm ngàn lượt doanh nghiệp mỗi năm. Số hồ sơ đăng ký thay đổi các nội dung ĐKKD còn lớn hơn nhìêu số hồ sơ ĐKKD thành lập doanh nghiệp mới. Trung bình mỗi năm cơ quan ĐKKD Hà Nội cấp ĐKKD cho 3.400 doanh nghiệp mới, 14.000 hộ kinh doanh cá thể - mỗi ngày làm việc xử lý khoảng 64 hồ sơ ĐKKD. Tương tự, các con số của phòng ĐKKD thành phố HCM trung bình mỗi năm cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho 7000 doanh nghiệp thành lập mới, 31.276 hộ kinh doanh cá thể, mỗi ngày làm việc và xử lý khoảng 141 hồ sơ ĐKKD.

Các cán bộ ĐKKD ở cấp tỉnh và cấp huyện cũng đã đăng ký mới và đăng ký thay đổi cho hơn 5.000 doanh nghiệp nhà nước, 15.000 hợp tác xã và hơn 2 triệu rưỡi hộ kinh doanh cá thể, chưa kể hàng chục ngàn trang trại đang có nhu cầu ĐKKD nhưng chưa có quy định pháp lý để thực hiện. Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm  có khoảng 20 ngàn doanh nghiệp mới, bình quân 660 người dân có một doanh nghiệp, 200 ngàn hộ kinh doanh cá thể ra đời. Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể đăng ký mới, đăng ký thay đổi nội dung kinh doanh, giải thể, phá sản, ... Đều liên quan đến ĐKKD.

Ngoài ra, còn một số nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật mà cơ quan ĐKKD hiện chưa làm  tốt như việc tổng hợp, phân tích báo cáo tài chính hàng năm  của doanh nghiệp, hướng dẫn người thành lập doanh nghiệp về ngành nghề kinh doanh có đìêu kiện, ... để có thể hướng dẫn được ngừơi thành lập doanh nghiệp về điều kiện kinh doanh các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cán bộ làm công tác ĐKKD phải am tường hàng chục luật, pháp lệnh, nghị định từ Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự cho đến các luật, pháp lệnh nghị định chuyên ngành, hàng trăm chỉ thị , quyết định và thông tư hướng dẫn cụ thể về ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong khi điều kiện luôn luôn biến động.

Trong khi đó, số lượng cán bộ làm công tác ĐKKD ở 64 tỉnh, thành phố hiện có trên 300 người kể cả 27 phó giám đốc sở kế hoạch và đầu tư kiêm trưởng phòng ĐKKD, bình quân một phòng ĐKKD cấp tỉnh có 5 cán bộ, kể cả lãnh đạo trung bình một cán bộ ĐKKD phải theo dõi 600 hồ sơ doanh nghiệp. Ngoài ra, để đăng ký hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh cá thể và các hợp tác xã thuộc thẩm  quyền đăng ký của UBND cấp huyện, cả nước có gần 600 cán bộ không chuyên làm nhiệm vụ ĐKKD ở cấp huyện, trung bình một cán bộ ĐKKD phải theo dõi 4000 hồ sơ hộ kinh doanh cá thể. Ở TW , có 4 biên chế và một cán bộ hợp đồng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nứơc về ĐKKD và 3 biên chế 4 cán bộ hợp đồng làm nhiêm vụ tin học hoá công tác ĐKKD được bố trí trong hai đơn vị cấp phòng ( trước đây thuộc vụ doanh nghiệp , nay thuộc cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ - Bộ Kế hoạch và Đầu tư ). Với cách tổ chức như hiện nay thì không đủ thẩm quyền và năng lực trình độ và nhân lực để thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà luật, nghị định đã giao, không theo kịp sự phát triển của thị trường, của yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện hội nhập thực hiện Luật DN thống nhất, khi đó số DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được ĐKKD như DN trong nước, và tất cả các chủ thể kinh doanh trên đất nước VN sẽ phải tiến hành đăng ký tại một hệ thống cơ quan ĐKKD thống nhất.

4) Do yêu cầu của việc tin học hoá hệ thống quản lý hành chính nhà nước, tin học hoá công tác ĐKKD.

Trong những năm qua, việc tin học hoá công tác ĐKKD thông qua mạng thông tin doanh nghiệp toàn quốc được thiết lập tại trung tâm Thông tin Doanh nghiệp những mới chỉ kết nối được với 10 tỉnh. Riêng thành phố HCM, công tác tin học hoá ĐKKD được triển khai khá sớm và thu được những thành tựu quan trọng, làm tăng hiệu suất công tác. Việc tin học hoá đã xác lập được ưu thế vai trò của mình, tạo điều kiên cho cơ quan ĐKKD phục vụ dân được tốt hơn, phong cách và thái độ làm việc của công chức đã thay đổi tích cực, bảo đảm  yêu cầu về minh bạch hoá, nhất là ở thành phố HCM. Mặc dù còn rất nhiều việc phải làm, nhưng cũng đã bước đầu hình thành được một cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp tại Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp. Trang Web Doanh nghiệp Việt Nam  bước đầu đã cung cấp được những thông tin cơ bản về địa vị pháp lý của doanh nghiệp,văn bản quy phạm pháp luật, là diễn đàn để các doanh nhân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước trao đổi, đề đạt các ý tưởng kinh doanh... Để đáp ứng được nhu cầu về ĐKKD ngày càng tăng, góp phần tạo nên bộ dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, minh bạch hoá các quy định pháp luật về doanh nghiệp và cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư thì yêu cầu bức thiết là phải đẩy nhanh quá trình tin học hoá công tác ĐKKD. Để tin học hoá được công tác ĐKKD thì điều kiện tiên quyết là phải tổ chức lại các đầu mối về ĐKKD đang rất phân tán hiện nay thành một hệ thống thống nhất, có tính chuyên nghiệp cao từ Trung ương đến tỉnh,huyện.

5) Yêu cầu về nội nhập và từng bước phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về ĐKKD.

Trình tự, thủ tục và thời gian ĐKKD theo quy định của Luật Doanh nghiệp tuy đã có nhiều tiến bộ vượt bậc so với trước đây, nhưng so với yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế thì chúng vẫn xếp vào nhóm  các nước yếu xét về cả tính đồng bộ của hệ thống tổ chức và cán bộ làm công tác ĐKKD. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, về thủ tục, thời hạn và chi phí của việc ĐKKD thì trong 168 nước được xếp loại, ta chỉ xếp vào loại trung bình. Để có thể hội nhập và từng bước phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về ĐKKD thì cần phải khắc phục tính tản mạn, manh mún, mang tính chất địa phương, mỗi nơi một cách hành xử với doanh nghiệp, mỗi nơi một cách tổ chức sắp xếp cán bộ... của cơ quan ĐKKD hiện nay.

IV) Về phương kiện toàn hệ thống cơ quan ĐKKD.

1. Nguyên tắc kiện toàn.

Năm năm thi hành Luật Doanh nghiệp là thực tiễn sinh động không những giúp ta loại bỏ tâm lý phân vân, do dự thường gặp trong những năm  trước mà còn cung cấp cho chúng ta nhiều bài học và kinh nghiệm  quý để suy nghĩ về cách thức kiện toàn cơ quan ĐKKD, đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tế cuộc sống và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc kiện toàn hệ thống cơ quan ĐKKD cần được dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Hệ thống cơ quan ĐKKD phải đủ khả năng đảm nhận đăng ký được mọi loại hình doanh nghiệp theo mọi hình thức sở hữu hoạt động trên đất VN.

- Phải đảm  bảo được tính hệ thống của tổ chức, tính hợp lý của các quy trình nghiệp vụ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác ĐKKD.

2. Mô hình cơ quan ĐKKD:

2.1 Cơ sở pháp lý :

- Phải đưa vào Luật DN thống nhất mô hình hệ thống, thống nhất của cơ quan ĐKKD quốc gia. Vì  nếu quy định như luật DN 1999 giao cho chính phủ quy định, trên thực tế đã không đủ sức mạnh để phát huy hiệu lực, Bộ KH&ĐT trong nhiều năm  qua đã thiếu sự chỉ đạo, quan tâm đúng mức tới hệ thống ĐKKD, mặc dù Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo bằng nhìêu chỉ thị.

Đặt cơ quan ĐKKD trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước theo hệ thống cải cách hành chính quốc gia, phân định rõ chức năng nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước,để tránh tình trạng các cơ quan nội chính can thiệp, chỉ đạo vào hoạt động chuyên môn của cơ quan ĐKKD. đảm bảo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Dân được làm những gì mà pháp luật không cấm, cơ quan nhà nước chỉ được hành xử theo quy định của pháp luật. Xây dựng cơ quan ĐKKD trở thành một cơ quan hành chính công trong hệ thống cơ quan hành chính của nhà nước chịu trách nhiệm về chuyên môn ĐKKD trước pháp luật.

2.2 Về năng lực trình độ cán bộ:

Cơ quan ĐKKD các cấp phải được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ ĐKKD để trở thành các đăng ký viên chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hoạt động chuyên môn của mình.

Muốn vậy phải ban hành trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận ĐKKD thật rõ ràng để hệ thống các bên ĐKKD thực hiện và xem xét sự vi phạm của họ, tránh việc lệnh miệng chỉ đạo tạm  ngừng ĐKKD  như hiện nay.

Một cơ chê đăng ký hoàn toàn khác một cơ chế cấp giấy phép về mọi phương diện.

a) Ý nghĩa pháp lý:

+ Giấy chứng nhận ĐKKD là sự chứng thực của cơ quan hành chính công, là nghĩa vụ của nhà nước thực hiện đăng ký quyền kinh doanh của công dân.

+ Cấp giấy phép là sự cho phép của cơ quan quản lý nhà nước là cơ chế xin - cho - cấp phép.

b) Thủ tục:

+ Cấp giấy chứng nhận ĐKKD: đơn giản hồ sơ hợp lệ là đăng ký, không phải xin.

+ Cấp phép đòi hỏi phải có đơn xin phép cộng hồ sơ hợp pháp công với phải qua quá trình thẩm định kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước.

c) Thời hạn có hiệu lực:

+ Giấy chứng nhận ĐKKD: do nhà đầu tư quyết định, không ghi vào giấy chứng nhận ĐKKD.

+ Giấy phép: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định có thời hạn của pháp luật, hết hạn lại kiểm tra, thẩm định lại các tiêu chuẩn để cấp tiếp.

d) Giới hạn quyết định:

+ Nếu hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký kinh doanh phải cấp và xuất hiện ngay nghĩa vụ bảo vệ quyền sở hữu tên DN.

+ Trong 1 số trường hợp nhất định, cơ quan nhà nước có thể từ chối cấp giấy phép để bảo vệ lợi ích cộng đồng, có thể hạn chế về số lượng ( giấy phép khai thác khoáng sản).

Xuất phát từ một nhà nước của dân, do dân, vì dân, cần xây dựng cho đội ngũ cán bộ ĐKKD một tinh thần chủ động phục vụ doanh nghiệp, tránh tình trạng cửa quyền như kiểu cấp giấy phép hiện nay.

2.3 Về trình độ lượng cán bộ.

Để chuẩn bị đăng ký cho toàn bộ các loại hình doanh nghiệp theo luật DN thống nhất và thực hiện những nhiệm vụ quản lý sau đăng ký cơ quan, ĐKKD phải đựơc tăng cường về số lượng và chất lượng cán bộ theo hướng chuyên nghiệp hoá cao độ cán bộ đăng ký ĐKKD: nâng cao trình độ nâng cao trình độ nghiệp vụ ĐKKD và hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện đúng pháp luật bao gồm:

 + Trình độ pháp lý chuyên sâu, tránh thuyên chuyển cán bộ ĐKKD làm công việc khác một cách tuỳ tiện.

+ Trình độ am hiểu các luật chuyên ngành liên quan đến ĐKKD để chỉ dẫn nhà đầu tư.

+ Trình độ xử lý tin học, khai thác các thông tin trên mạng, truy cập và cung cấp các thông tin vào hệ thống dữ liệu thông tin doanh nghiệp quốc gia.

2.4 Số lượng cán bộ bao nhiêu là đủ?

- Cả nước hiện có 4 vạn cán bộ thuế nhưng mới có 300 cán bộ ĐKKD cấp tỉnh và 600 cán bộ ĐKKD ở cấp huyện.

- Với tốc độ đăng ký trong 1 năm  như hiện nay khoảng 30 ngàn DN chia cho 300 cán bộ thì 1 người 1 năm đang ký cho 100 doanh nghiệp, chia cho 250 ngày làm việc 1 năm thì trung bình cả nước 1 người 1 ngày đăng ký 0,4 doanh nghiệp. 

- Số đăng ký thay đổi gấp 4 lần số đăng ký mới, số đăng ký thay đổi sẽ tăng theo tỷ lệ thuận số DN đăng ký mới vì DN càng hoạt động lâu, càng có nhiều nhu cầu thay đổi đăng ký kinh doanh cần công bố với thị trường, tuy nhiên thời gian đăng ký thay đổi là không lâu như đăng ký mới.

Tạm tính chỉ riêng khối lượng công việc đăng ký 1 ngày 1 người đăng ký cho 1 doanh nghiệp kể cả đăng ký thay đổi thì 1 năm với 250 ngày làm việc chúng ta đã có thể đăng ký cho 300 x 250 = 75.000 lần đăng ký. Nếu có một cơ chế đăng ký viên đủ năng lực không phải chờ trưởng phòng ký giấy chứng nhận đăng ký thì với số lượng cán bộ ĐKKD hiện nay hoàn toàn đáp ứng công việc đăng ký cho các doanh nghiệp. Chi phí thời gian cho việc chờ đợi di chuyển hồ sơ từ nơi tiếp nhận đến người xử lý, từ người xử lý đến người ký đã làm tăng số thời gian cấp giấy CN ĐKKD lên ít nhất là hai lần.

Khi tính số lượng cán bộ ĐKKD bao nhiêu là đủ phải phân tính đến số lượng công việc đăng ký thực tế xảy ra trong tương lai. Qua 5 năm thực hiện luật DN 1999 cho thấy nguyên nhân làm giảm tốc độ cấp giấy chứng nhận ĐKKD không phải là do khối lượng DN quá lớn, mà do các quy định của địa phương đã làm chậm tốc độ cấp giấy chứng nhận ĐKKD, việc các địa phương quy định thêm các thủ tục đã làm cho các phòng ĐKKD phải chờ hỏi cấp trên và các cơ quan liên quan, không được độc lập thực hiện công việc ĐKKD vì họ sợ bị các cơ quan nội chính soi xét quy kết trách nhiệm, không có một cơ quan cấp trên bênh vực họ nên có tâm lý ỷ lại chờ đợi trả lời để tránh sự phiền hà phải giải trình trước thanh tra, VKS, công an. Có thể nói sự thiếu hiểu biết Luật DN của các cơ quan nội chính và  cả hệ thống công quyền của ta đang là rào cản cho việc thực thi ĐKKD theo luật DN. Nhiều cán bộ ĐKKD chấp hành đúng luật đã phải trả giá, bị cách chức, chuyển công tác, nên đã tác động đến kết quả đăng ký vì họ còn bị quy kết trách nhiệm  theo K1 ,K2 theo Điều  29 nghị định 109/2004 /NĐ - CP .

Chính nguyên nhân về trình độ không chuyên nghiệp của cả hệ thống công quyền đã gây nên tâm lý hoang mang cho cán bộ ĐKKD.

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0996322948
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Lê Thị Xuyên
  • 0978053957
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0938188889
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • ĐIỂM TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.